-October 2018+
SMTWTFS
30123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031123
45678910

Ngày 25 tháng 12 năm 2015, thừa ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh tại Quyết định số 4984/QĐ-UBND ngày 27/11/2015, Hội đồng nghiệm thu cấp tỉnh tổ chức họp, đánh giá kết quả thực hiện dự án “Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học, sinh thái học của các loài hạt trần quý, hiếm; thử nghiệm gây trồng loài Thông đỏ đá vôi, Đỉnh tùng phục vụ công tác bảo tồn bền vững tài nguyên đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động”. 

Statistics

  • Entries (40)
  • Comments (135)

Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa chăm sóc, cứu hộ, thả cá thể Khỉ vàng (Macaca mulatta) về môi trường tự nhiên 

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa về việc chuyển giao động vật hoang dã tự nguyện giao nộp. Ngày 16/9/2018, Hạt Kiểm lâm Thành phố Thanh Hóa bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa 01 cá thể Khỉ vàng (Macaca mulatta), trọng lượng 7,5 kg; thuộc loài động vật nguy cấp quý hiếm nhóm IIB (Nghị định 32/2006/NĐ-CP).
Posted by Admin Monday, October 1, 2018 9:14:00 AM

Sau 10 ngày chuyển về Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa chăm sóc, cứu hộ và cho tập làm quen với môi trường tự nhiên, cá thể Khỉ vàng (Macaca mulatta) đã khỏe mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không còn biểu hiện sợ hãi, ăn, uống tốt và có thể thả về môi trường tự nhiên một cách an toàn.

Ngày 25/9/2018, Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa phối hợp với Ban quản lý Bản Lở, Ủy ban nhân dân xã Nam Động, huyện Quan Hóa tổ chức thả cá thể Khỉ vàng (Macaca mulatta) về môi trường tự nhiên tại Lô g, khoảnh 5, tiểu khu 187, Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiến Nam Động (thuộc địa giới hành chính: Bản Lở, xã Nam Động, huyện Quan Hóa). Từ những hoạt động chăm sóc, cứu hộ động vật rừng và thả về môi trường tự nhiên như trên, đã góp phần tạo nên giá trị đa dạng sinh học, phát triển nguồn gen bền vững của Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiến Nam Động, huyện Quan Hóa./. 

Một số hình ảnh về cá thể Khỉ vàng (Macaca mulatta) sau khi  được cứu hộ, chăm sóc, thả về môi trưởng tự nhiên

Đồng chí Lê Kim Du – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa (bên phải) và cán bộ trong đơn vị kiểm tra cá thể Khỉ vàng trước khi thả về môi trường tự nhiên

Đồng chí Đặng Huy Trường – Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Bản Bâu và Ban quản lý bản Lỡ đang lựa chọn môi trường phù hợp để thả Khỉ vàng

Cá thể Khỉ vàng (Macaca mulatta) sau khi được thả về môi trường tự nhiên 

Lê Văn Sơn

Cầy tai trắng - Ninja của rừng già 

Posted by Nguyễn Tuấn Anh Thursday, September 13, 2018 12:02:00 AM

Loài Cầy tai trắng có tên khoa học là Arctogalidia trivirgata (Gray, 1832), thuộc họ Cầy Viverridae, bộ Thú ăn thịt Canivora. Loài này cố vùng phân bố rộng, trải dài từ Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Borneo, Sumantra, Java đến Đông Dương. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận loại này ở nhiều nơi, như Vĩnh Phú, Hoà Bình, Gia Lai, Kontum, Ninh Thuận, Bình Thuận... Đây là loài thú quý hiếm, có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Hiện tại, số lượng cá thể loài này đang có chiều hướng suy giảm do nạn săn bắn bừa bãi và mất sinh cảnh sống.

Khi màn đêm buông xuống những cánh rừng mưa nhiệt đới ở miền trung Việt Nam, một thế giới khác chợt cựa mình tỉnh dậy: thế giới của các loài thú ăn đêm. Trong cái thế giới kỳ lạ và huyền ảo đó, Cầy tai trắng thật xứng đáng nhận danh hiệu những Ninja của rừng già...

So với những người anh em trong họ Cầy Viverridae, Cầy tai trắng có kích thước thuộc dạng trung bình., phần sống mũi có sọc trắng mờ, đôi tai to tròn, mỏng phủ lớp lông ngắn màu trắng, hai mắt to, phần lông quanh mắt có màu sậm, trông như một chiếc mặt nạ của các ninja trên phim ảnh. Ngoài gương mặt của “điển trai”, Cầy tai trắng được tạo hóa ban tặng một bộ lông màu vàng nhạt (đôi khi hung xám), có 3 sọc nâu đen dọc sống lưng. Phần lông ở chân và cuối đuôi màu đen tuyền, xù hơn so với lông trên mình.

Chân dung Cầy tai trắng Arctogalidia trivirgata (ảnh: Nguyễn Hào Quang)

Chân dung Cầy tai trắng Arctogalidia trivirgata (ảnh: Nguyễn Hào Quang)

Cầy tai trắng khá khó tính trong chuyện ăn uống. Thức ăn ưa thích của chúng là các loại quả như, sung, da, mận... trứng chim và chim. Trong những cánh rừng nguyên sinh, cây cối đua nhau vươn cao để đón ánh mặt trời, nên việc kiếm được bữa trái cây ngon lành đủ dinh dưỡng luôn là thách thức với loài động vật không có đôi cánh. Tuy nhiên, với Cầy tai trắng đó chỉ là “chuyện nhỏ như con thỏ”, bởi qua quá trình tiến hóa, Cầy tai trắng đã phát triển khả năng leo trèo và luồn lách phi thường để luôn là kẻ về nhất trong các cuộc ”trèo đua” tìm quả mọng. Với cơ thể khá thon thả, chúng còn có thể “phi thân” từ tán cây này qua tán cây khác nếu khoảng cách dưới 5 mét. Khả năng leo trèo tuyệt vời còn giúp Cầy tai trắng trở thành “cái chết bất ngờ” đối với lũ chim ngây thơ vốn cứ tưởng tán cây cao là chỗ nghỉ an toàn khi đêm xuống.

Trong màn đêm, cầy tai trắng thoát ẩn thoắt hiện trên các ngọn cây cao. Tuy chúng không nhỏ bé, nhưng với “thân thủ phi phàm” và bước đi êm ái, rất khó để có thể quan sát được loài này trong rừng. Tuy nhiên, nếu biết được vị trí chúng hay kiếm ăn cộng thêm lòng kiên nhẫn, ta vẫn có thể quan sát và chụp ảnh loài thú chuyên ăn đêm này tại một số khu vực ít có sự tác động của con người.

Chân dung Cầy tai trắng Arctogalidia trivirgata (ảnh: Nguyễn Hào Quang) 

Sưu tầm: Nguyễn Tuấn Anh - Phòng BTTN

Nguồn: Sinh vật rừng Việt Nam - (vncreatures.net)

Tác giả: VŨ LONG - Viện Sinh học nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh

Tập huấn nâng cao năng lực quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học 

Thực hiện công tác Bảo tồn thiên nhiên năm 2018. Trong hai ngày 14, 15 tháng 6 năm 2018, tại huyện Quan Sơn, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa tổ chức lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học…Tham gia lớp Tập huấn gồm có Trạm trưởng, Kiểm lâm viên địa bàn Hạt Kiểm lâm các huyện Quan Hóa, Quan Sơn; Cán bộ lâm nghiệp 4 xã, đại diện Ban quản lý 12 thôn (bản) và các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng đặc dụng thuộc vùng đệm Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Qua
Posted by Admin Tuesday, June 19, 2018 8:28:00 AM

Kết quả  học viên sau khi tham gia lớp tập huấn được giảng viên Trường Đại học Lâm nghiệp chuyển tải chuyên sâu về nhận dạng, quản lý, theo dõi các loài động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm, đặc hữu hiện có trong Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa./.

Một số hình ảnh tại hội nghị tập huấn

Ông Nguyễn Văn Dũng - Phó Trưởng Phòng BTTN - Điểm danh, ổn định tổ chức, giới thiệu đại biểu, thông qua chương trình tập huấn.

Ông Trịnh Quang Tuấn – Phụ trách Phòng BTTN – Khai mạc hội nghị tập huấn

PGS.TS. Đồng Thanh Hải - Giảng viên trường Đại học Lâm nghiệp trao đổi với các học viên

Nguyễn Văn Dũng

Đa dạng sinh học Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa 

Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động có tổng diện tích là 646,95ha nhưng rất đa dạng về các loài động thực vật. Đến nay, tổng số loài động, thực vật tại Khu bảo tồn Nam Động là: 890 loài (trong đó: Thực vật: 673 loài, 465 chi, 136 họ; động vật: 217 loài, 103 họ, 32 bộ), bổ sung vào danh lục động thực vật năm 2012 là 494 loài động, thực vật (trong đó: 300 loài thực vật, 194 loài động vật).
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Tuesday, June 5, 2018 1:41:00 PM

Nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Nam Động, Chi cục Kiểm lâm đã triển khai đồng bộ các giải pháp về quản lý bảo vệ rừng; công tác nghiên cứu khoa học; công tác phát triển du lịch sinh thái; công tác phát triển rừng, phục hồi sinh thái rừng đặc dụng và phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm…

 

 
Nguồn: TTV
 
Ngô Thị Minh

Thành phần ALKALOIDAL tách chiết từ loài CEPHALOTAXUS MANNII HOOK. F. thu được ở tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam 

Cephalotaxus mannii Hook. f. (Đỉnh tùng, Hình 1) là loài cây lá kim thuộc họ Đỉnh tùng (Cephalotaxaceae), có chiều cao khoảng 20-30 m. Loài Đỉnh tùng mọc ở Nam và Đông Nam Á. Trên thế giới loài được xếp vào tình trạng sắp tuyệt chủng (VU A1d), ở Việt Nam loài xếp vào tình trạng sắp tuyệt chủng (VU A2cd B1ab, B2ab, C1). Gỗ đỉnh tùng có chất lượng cao, chịu mối mọt, sử dụng làm đồ gỗ cao cấp. Đỉnh tùng có chứa hoạt chất alcaloit Homoharringtonine có tác dụng chống bệnh ung thư máu. Vì vậy, loài hi
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Wednesday, May 23, 2018 6:58:00 PM

Trong khuôn khổ của đề tài TN3/TN15 “Nghiên cứu tính đa dạng nguồn gen di truyền và thành phần hóa học một số loài lá kim ở Tây nguyên, đề xuất giải pháp bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững”, thuộc chương trình Nghiên cứu Tây Nguyên III, loài Đỉnh tùng đã được quan tâm nghiên cứu thành phần hóa học. Kết quả 8 thành phần alkaloidal đã được phân lập và xác định cấu trúc hóa học từ vỏ cây Đỉnh tùng thu hái ở cao nguyên tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam, đó là: cephalotaxin (1), isoharringtonine (2), norisoharringtonine (3), desoxyharringtonine (4), nordesoxyharringtonine (5), cephalotaxin, β-N-oxit (6), 3-epi-schellhammericine (7) và một đồng phân của 3-epi-chellhammericine (8) (Hình 2). Trong số đó, norisoharringtonine (3) là hợp chất mới lần đầu tiên được phân lập. Cấu trúc của các thành phần này được xác định bằng các phương pháp quang phổ như FTIR, ESI-MS, HR-ESI-MS và NMR (1D, 2D) và so sánh với các dữ liệu đã công bố. 

Tên bài báo: Tran Văn Loc, Nguyen Thi Lieu, Tran Thi Phuong Thao, Nguyen Thi Luu, Ho Ngoc Anh, Le Thi Thu Ha, Tran Van Chien, Pham Thi Ninh, Dinh Thi Phong, and Tran Van Sung. (2017). The alcaloidal constituents ofCephalotaxus mannii collected in Lam Dong province, Vietnam. Chemistry of Natural Compounds, 53(6): 1122-1126. DOI 10.1007/s10600-017-2214-x.

Nguyễn Văn Dũng

 

Nguồn tin bài: PGS.TS. Đinh Thị Phòng

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST.

Tập huấn kỹ năng du lịch sinh thái 

Thực hiện công tác Bảo tồn thiên nhiên năm 2018. Từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 4 năm 2018, tại huyện Quan Hóa, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa tổ chức lớp tập huấn kỹ năng du lịch sinh thái để trang bị cho người dân địa phương về kỹ năng Du lịch sinh thái, văn hóa, khôi phục làng nghề truyền thống…Tham gia lớp Tập huấn gồm có Kiểm lâm viên địa bàn, Kiểm lâm viên tiểu khu và các hộ gia đình thuộc vùng đệm Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Monday, May 7, 2018 3:13:00 PM

Kết quả học viên sau khi tham gia lớp tập huấn được giảng viên Trường Đại học Hồng Đức chuyển tải một số nội dung cơ bản như: Tổng quan về du lịch sinh thái, văn hóa; các loại hình du lịch sinh thái, văn hóa; vai trò của du lịch văn hóa trong cộng đồng; quy trình khôi phục các loại làng nghề du lịch sinh thái, văn hóa…

Một số hình ảnh tại hội nghị tập huấn

Ông Lê Văn Sơn - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa - Điểm danh, ổn định tổ chức, giới thiệu đại biểu, thông qua chương trình tập huấn.

Ông Thiều Văn Lực – Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm – Khai mạc hội nghị tập huấn

ThS. Nguyễn Việt Hoàng - Giảng viên trường Đại học Hồng Đức trao đổi với các học viên

Các học viên tham gia lớp tập huấn

Nguyễn Văn Dũng

Đa dạng di truyền của hai loài thông đang bị đe dọa ở Việt Nam: Thông đỏ bắc (Taxus chinensis) và Thông đỏ nam (Taxus wallichiana) 

Đánh giá đa dạng di truyền giữa các loài và trong các loài rất quan trọng đối với các chương trình bảo tồn nguồn gen và nhân giống cây trồng. Sự đa dạng di truyền rất quan trọng đối với khả năng thích nghi của loài, tồn tại lâu dài và thích ứng với các điều kiện môi trường thay đổi. Do đó, sự hiểu biết tốt hơn về quá trình di truyền, nghiên cứu sự đa dạng di truyền các loài quý hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng sẽ cung cấp những dữ liệu quan trọng cho việc phát triển các chiến lược bảo tồn và sử
Posted by Admin Friday, April 13, 2018 11:06:00 PM

Hai loài thông đỏ Bắc và thông đỏ Nam lựa chọn trong nghiên cứu là những loài quý hiếm có giá trị đặc biệt về mặt y học được sử dụng để sản xuất taxol (hợp chất chữa bệnh ung thư), thủ công mỹ nghệ và làm cảnh. Các loài này phân bố ở vùng núi đá vôi, núi đất phía Bắc và Nam Việt Nam và cả hai loài này đều nằm trong danh sách các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng của IUCN và Sách Đỏ Việt Nam. Tuy nhiên, các nhà quản lý và các nhà khoa học thiếu các thông tin quan trọng về đa dạng nguồn gen và cấu trúc di truyền quần thể tự nhiên của hai loài này. Do đó, mục đích trong nghiên cứu là sử dụng sáu cặp mồi SSR được lựa chọn từ 16 cặp mồi SSR để điều tra biến dị di truyền ở mức độ quần thể và loài của hai loài thông đang bị đe dọa ở Việt Nam và hướng dẫn việc bảo tồn, quản lý và phục hồi các loài này ở Việt Nam.

Kết quả chỉ ra rằng sự biến đổi di truyền ở mức độ thấp và mức độ phân biệt quần thể di truyền cao của hai loài thông, có liên quan đến hậu quả của sự can thiệp của con người. Các sinh cảnh của hai loài thông đã bị ảnh hưởng rất lớn bởi hoạt động của con người và tình trạng khai thác gỗ thương mại trong những thập niên gần đây kể từ năm 1980. Tất cả quần thể nghiên cứu của hai loài thông đều nằm trong các khu rừng nhỏ bị cô lập trong những khu vực không thích hợp cho sự sống còn của chúng. Dựa trên kết quả của chúng tôi, các chiến lược quản lý hiệu quả bao gồm cả bảo tồn nguyên vị và chuyển vị. Bảo tồn ngoại vi có thể được thực hiện ngay như là một cách bảo vệ có thể ngăn ngừa sự xói mòn nguồn gen di truyền của quần thể hoang dã. Xây dựng vườn ươm phục vụ công việc phục hồi quần thể và loài của cả hai loài Thông.

Hình ảnh cấu trúc di truyền quần thể của hai loài đang bị đe dọa ở Việt Nam: thông đỏ Bắc (A) và thông đỏ Nam (B) dựa trên phân tích Bayesian

Nguồn tài liệu:

Dinh Duy Vu, Thi Tuyet Xuan Bui, Minh Tam Nguyen, Dinh Giap Vu, Minh Duc Nguyen, Van Thang Bui, Xiaohua Huang, Yi Zhang (2017). Genetic diversity in two threatened species in Vietnam: Taxus chinensis and Taxus wallichianaJournal of Forestry Research 28 (2): 265–272. https://link.springer.com/article/10.1007/s11676-016-0323-1

Tin: NCS. Vũ Đình Duy
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

 

Tác giả: Nguyễn Văn Dũng

Phát hiện loài ngài (bướm đêm) mới cho khoa học từ Miền nam Việt Nam 

Phát hiện loài ngài (bướm đêm) mới cho khoa học từ Miền nam Việt Nam
Posted by Admin Friday, April 13, 2018 11:03:00 PM

Loài ngài mới có tên khoa học là Catocala miyagawai Ishizuka, Goshima & Lien, sp. nov., thuộc họ Erebidae, Bộ cánh vảy (Lepidoptera). Erebidae là một họ ngài trong liên họ Noctuoidea với hơn 70.000 loài đã được biết (Liên họ lớn nhất trong số các liên họ thuộc Bộ Cánh vảy – Lepidoptera). Họ Erebidae có nhiều nhóm ngài có kích thước lớn được biết đến, như Catocala, Herminiinae, Arctiinae, Lymantriinae; bao gồm cả các loài ngài Bắc cực, như Gynaephora groenlandica; đến các loài ngài có kích thước nhỏ, như Micronoctuini, Hypeninae, v.v. Kích thước các loài trong họ rất đa dạng, từ loài có kích lớn sải cánh lớn trên 13cm, đến những loài có kích thước sải cảnh nhỏ dưới 0,6cm.

Tên của loài ngài mới được đặt theo tên của ông Takashi Miyagawa, người đã thu thập mẫu vật loài mới. Mẫu vật của loài mới được thu thập tại rừng tự nhiên ở độ cao 1650 mét khu vực Hòn Giao, Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, vào tháng 5 năm 2017.

Hình thái loài mới Catocala miyagawai Ishizuka, Goshima & Lien, sp. nov. được thể hiện ở Hình 1, 2. Loài mới này gần giống với loài C. tokui Sugi, 1976  (Hình 3, 4, 5, 6). Đặc điểm phân biệt sự khác nhau của 2 loài còn được thể hiện ở sự khác biệt rõ về gai giao cấu cá thể đực (Hình 8-9).

Hình 1-6. Catocala spp. 1. C. miyagawai sp. nov., holotype, ♂. 2. Mặt dưới. 3. Loài C. tokui Sugi, 1976, ♂,Japan, Mie-ken, Miyama-cho. 4. Mặt dưới. 5. Loài C. tokui Sugi, 1976,  ♂, Japan, Nagasaki-ken, Tsushima-shi. 6. Mặt dưới.

Hình 7-8. Gai giao cấu cá thể đực Catocala spp. (b, c: dương vật, mặt bên; b: bên trái; c: bên phải); d: juxta/anellus. 7. Loài C. miyagawai sp. nov., holotype. 8. Loài C. tokui, Japan, Mie-ken, Miyama-cho.

Hình 9. Gai giao cấu cá thể đực loài Catocala tokui, Japan, Nagasaki-ken, Tsushima-shi (b, c: dương vật, mặt bên; b: bên trái; c: bên phải; d: juxta/anellus).

 

Họ Erebidae chưa có nhiều nghiên cứu, vì vậy, việc phát hiện thêm loài mới có ý nghĩa bổ sung dữ liệu đa dạng thành phần loài họ ngài Erebidae nói riêng, côn trùng nói chung ở Việt Nam và thế giới.

 

Nguồn Tin: Vũ Văn Liên
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Bài báo được đăng trên Tạp chí Tinea 24(2): 82-85, Tháng 3 năm 2018.

 

Tác giả: Nguyễn Văn Dũng

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ cộng đồng vùng đệm rừng đặc dụng Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động 

Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động được thành lập theo Quyết định số 87/QĐ-UBND ngày 08/01/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa thuộc địa giới hành chính xã Nam Động, huyện Quan Hóa với diện tích 646,95 ha, diện tích vùng đệm 3.315,53 ha/12 thôn (bản) thuộc địa phận hành chính của 04 xã: Trung Thượng, Sơn Lư, Sơn Điện - huyện Quan Sơn và xã Nam Động - huyện Quan Hóa.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Thursday, March 15, 2018 4:11:00 PM

Thực hiện Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg, ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020, trong đó có chính sách hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng. Từ năm 2015 đến nay, Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động (do Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa trực thuộc Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa quản lý) đã triển khai, hỗ trợ 12 thôn, bản thuộc vùng đệm rừng đặc dụng để hỗ trợ các hạng mục như xây dựng các công trình đường giao thông, nhà Văn hóa, hỗ trợ thiết bị điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, hỗ trợ con giống…, với mức hỗ trợ 40 triệu/thôn, bản/năm. Mặc dù nguồn vốn hỗ trợ đầu tư của Nhà nước hàng năm còn hạn chế nhưng Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Kết quả, trong 3 năm (2015-2017), đã hỗ trợ vật liệu xây dựng làm được 950 m đường giao thông nông thôn; hỗ trợ sửa chữa 01 công trình Nhà Văn Hóa; hỗ trợ 4.000 con Gà giống, 1.506 kg cá giống các loại (Rô phi đơn tính, Cá Chép, Trắm cỏ) và các trang thiết bị tuyên truyền, điện chiếu sáng cho cộng đồng ..., góp phần giúp các thôn/bản dần hoàn thiện các tiêu chí, từng bước để được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới.

Qua 3 năm triển khai thực hiện, chương trình nhận được sự đồng thuận cao của chính quyền địa phương, cộng đồng thôn/bản thực hiện cam kết bảo vệ rừng, đặc biệt là cộng đồng dân cư vùng đệm Khu bảo tồn loài Nam Động; thông qua việc triển khai các chương trình hỗ trợ cộng đồng, kết hợp với công tác tuyên truyền, nhận thức, ý thức của nhân dân vùng đệm khu bảo tồn đối với công tác bảo vệ rừng đã được nâng lên rõ rệt, diện tích rừng đặc dụng Khu bảo tồn loài Nam Động được phát triển ngày càng bền vững./.

Một số hình ảnh về hỗ trợ cộng đồng theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Đường giao thông Nông thôn tại bản Chiềng xã Nam Động huyện Quan Hóa

Đường giao thông Nông thôn tại bản Làng xã Nam Động huyện Quan Hóa

Hỗ trợ các trang thiết bị tuyên truyền, điện chiếu sáng cho cộng đồng bản Bâu, bản Nót xã Nam Động huyện Quan Hóa

Đường giao thông Nông thôn tại bản Sủa xã Sơn Điện huyện Quan Sơn

Công trình sửa chữa Nhà Văn Hóa bản Na Hồ xã Sơn Điện huyện Quan Sơn

Hỗ trợ Cá giống (Rô phi, Chép, Trắm) phát triển sản xuất cho cộng đồng bản Lở xã Nam Động  huyện Quan Hóa; bản Bàng xã Trung Thượng huyện Quan Sơn.

Tác giả: Ngô Thị Minh

Đa dạng hệ sinh thái và hệ sinh vật tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa (Khu bảo tồn Nam Động). 

Trong 02 năm (2015-2016), Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Trung tâm Môi trường và Phát triển Lâm nghiệp bền vững triển khai thực hiện dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học; điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hoá”. Kết quả điều tra cho thấy Khu bảo tồn Nam động tuy có diện tích nhỏ là 646,95ha, nhưng rất đa dạng về hệ sinh thái và hệ sinh vật. Cụ thể như sau:
Posted by Admin Tuesday, December 26, 2017 3:58:00 PM

I. Đa dạng hệ sinh thái (HST):

Kết quả điều tra theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể và hệ thống phân loại thảm thực vật Việt Nam của tiến sỹ Thái Văn Trừng, thảm thực vật rừng trong khu vực nghiên cứu bao gồm các kiểu rừng sau

1. Thảm thực vật á nhiệt đới núi trung bình (> 700m): Có 9 kiểu phụ.

  • Rừng hỗn giao cây lá kim với cây là rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới ít bị tác động (nguyên sinh) trên đá vôi đai độ cao 700 – 1.600 m: Đại diện là các quần xã rừng nguyên sinh thường xanh cây lá kim hoặc rừng hỗn giao với cây lá rộng trên đỉnh và đường đỉnh ưu thế Thông pà cò Pinus kwangtungensis, Thông tre Podocarpus neriifolius, Bi tát Pistacia weinmanifolia, Mắc mật (Clausena indica), Huyết giác (Dracaena cambodiana), han, thu hải đường (Begonia sp.), Rhododendron spp, Vaccinium dunalianum
  • Rừng kín thường xanh cây lá rộng mưa mùa nhiệt đới ít bị tác động (nguyên sinh) trên đất feralit phát triển từ đá vôi đai độ cao 700 – 1.600 m: Phân bố trên đỉnh và đường đỉnh. Các loài thực vật ưu thế là Vai lá trái xoan Daphniphyllum glaucescens, Sơn trà Eriobotrya bengalensis, Bi tát Pistacia weinmanifolia, Hòa hương Platycarya strobilifera, Chân chim núi Schefflerapes-avis, Thích bắc bộ Acer tonkinense, Đa các loại Ficus spp, ngoài ra có các loài thuộc họ Giẻ (Fagaceae), côm (Elaeocarpus sp.),...
  • Rừng kín thường xanh cây lá rộng mưa mùa nhiệt đới ít bị tác động (nguyên sinh) trên đất feralit phát triển từ đá bazan đai độ cao 700 – 1.600 m: Các quần xã rừng kín nguyên sinh thường xanh này ưu thế bởi các loài Dẻ núi Castanopsis acuminatissima, Dẻ giáp Castanopsis armata, Dẻ xanh Lithocarpus pseudosundaicus, Giổi láng Michelia foveolata, Dẻ tùng sọc trắng Amentotaxus argotaenia, Tùng Amentotaxus yunnanensis, Đỉnh tùng Cephalotaxusmannii, Sồi sa pa Quercus chapaensis, Kim giao Nageia wallichiana,...
  • Rừng cây lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới đã bị tác động (thứ sinh) trên đất feralit phát triển từ đá vôi đai độ cao 700 – 1.600m: Các quần xã rừng thứ sinh thường xanh ưu thế Cốc đá Garuga pierrei, Mạy tèo Streblus macrophyllus, Trai lý Garcinia sp., Chân danh Celatrus spp., Rungia sp.,….
  • Rừng cây lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới đã bị tác động (thứ sinh) trên đất feralit phát triển từ đá bazan đai độ cao 700 – 1.600m: Các quần xã rừng thứ sinh thường xanh ưu thế các loài Dẻ Castanopsis spp., Lithocarpus spp.,  Bùm bụp Mallotus barbatus, Lá nến  Macaranga denticulata,....
  • Trảng cây bụi xen lẫn cây gỗ thứ sinh trên đất feralit phát triển từ đá vôi ở đai độ cao 700 – 1.600m: Các quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh cây lá rộng ưu thế Mạy tèo Streblus macrophyllus, Súm Eurya spp.,  Xương cá Carallia sp., Huyết giác Dracaena cochinchinensis, Ruối ô rô Streblus icillifolius, …..
  • Trảng cỏ thứ sinh trên đất feralit phát triển từ đá vôi ở đai độ cao 700 – 1.600m: Đặc trưng là các quần xã cỏ thứ sinh chịu hạn ưu thế Sinarundinaria sp., Arundinaria sp,….
  • Trảng cỏ thứ sinh trên đất feralit phát triển từ đá bazan ở đai độ cao 700 – 1.600m:  Các quần xã cỏ thứ sinh ưu thế Cỏ tranh Imperata cylindrica,…
  • Thảm thực vật tre nứa trên đất feralit phát triển từ các loại đá mẹ khác (trừ đá bazan và đá vôi) ở đai độ cao 700 – 1.600m.
  •  Các loài ưu thế là Giang Dendrocalamus patellaris Gamble, Nứa Neohouzeaua dullooa (Gamble) A. Camus = Taeniostachyum dulloa Gamble, Mạy Gigantochloa albo-ciliata (Munro) Kurz.

2. Thảm thực vật nhiệt đới núi thấp (<700m), có 14 kiểu phụ:

  • Rừng kín thường xanh cây lá rộng mưa mùa nhiệt đới ít bị tác động (nguyên sinh) trên đất feralit phát triển từ đá vôi đai độ cao dưới 700m: Có loài thực vật chiếm ưu thế: Chò Nhai Anogeissus acuminate, Nghiến Excentrodendron hsienmu, Sâng Pometia pinnata, Gội Aglaia sp. Các loài Đa Ficus spp.,…
  • Rừng cây lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới đã bị tác động (thứ sinh) trên đất feralit phát triển từ đá vôi đai độ cao dưới 700m: Là thảm đặc trưng với các quần xã rừng thứ sinh nhiệt đới  thường xanh cây lá rộng ưu thế Ô rô Streblus ilicifolius, Mạy tèo Streblus macrophyllus, Trai lý Garcinia sp., và các loài Thị rừng Diospyrosspp.,…
  • Rừng cây lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới đã bị tác động mạnh (thứ sinh) trên đất feralit phát triển từ đá vôi đai độ cao dưới 700m: Đã bị tác động mạnh do tác động bên ngoài làm vỡ cấu cấu trúc tầng thứ của thảm. Hiện nay các quần xã của thực vật đang trong quá trình phục hồi, các loài loài thực vật ưu thế gồm Ô rô Streblus ilicifolius, Orophea tonkinensis,  các loài Thị rừng Diospyrosspp.,các loài Đa Ficusspp,…
  • Trảng cây bụi xen lẫn cây gỗ thứ sinh trên đất feralit phát triển từ đá bazan ở đai độ cao dưới 700m: Các quần xã rừng thứ sinh nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ưu thế Sau sau Liquidambar formosana, Ba soi  Macaranga denticulata, Bục bạc Mallotus paniculatus, Thành ngạnh Cratoxylon spp., Thầu tấu Aporusa spp., Cỏ lào Eupatorium odoratum, Đơn (đồng) Maesa spp.,....
  • Trảng cây bụi thứ sinh trên đất feralit phát triển từ đá bazan ở đai độ cao dưới 700m: Đặc trưng của kiểu thảm này làcác quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh cây lá rộng ưu thế Sim Rhodomyrtus tomentosa, Mua Melastoma candidum, Cỏ Lào Chronolaena odorata, Vót Viburnum spp, Guột Dicranopteris spp.,....
  • Trảng cây bụi thứ sinh trên đất feralit trên đất phát triển từ các loại đá mẹ khác (trừ đá bazan và đá vôi) ở đai độ cao dưới 700m: Các quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh cây lá rộng đa loài, ưu thế Găng Randia spinosa, Thầu tấu Aporosa sphaerosperma, Phèn đen Phyllanthus reticulatus, Đỏ ngọn Cratoxylon pruniflorum, Hoắc quang Wendlandia paniculata, Ba chạc Euodia lepta, Lấu đỏ Psychotria rubra, Bồ cu vẽ Breynia fruticosa, Bục bạc Mallotus paniculatus, Cỏ lào Chronolaena odorata,...
  • Trảng cỏ thứ sinh trên đất feralit phát triển từ đá vôi ở đai độ cao dưới 700m: Trên đá feralit phát triển từ đá vôi có các quần xã cỏ thứ sinh ưu thế Cỏ tranh Imperatacylindrica, Chè vè Miscanthus japonicus, Lách Neyraudia zeynaudiana,… phân mảnh rải rác trong khu bảo tồn.
  • Trảng cỏ thứ sinh trên đất feralit phát triển từ đá bazan ở đai độ cao dưới 700m: Các quần xã cỏ thứ sinh ưu thế Cỏ tranh Imperatacylindrica, Cỏ may Chrysopogon aciculatus, Panicum maximum, Cỏ LàoChronolaena odorata,...
  • Trảng cỏ thứ sinh trên trên đất phát triển từ các loại đá mẹ khác (trừ đá bazan và đá vôi) ở đai độ cao dưới 700m: Đại diện có các quần xã cỏ thứ sinh ưu thế Lau Saccharum spontaneum, Chè vè Miscanthus japonicus, Cỏ tranh Imperata cylindrica, Chít Thysanolaena maxima, Cỏ lô mía Themeda gigantean, Lách Neyraudia reynaudiana, Cỏ lào  Chronolaena odorata tái sinh sau nương rẫy.
  • Thảm thực vật cây trồng ngắn ngày: Rau màu: Ngô, Khoai, Rau các loại, Sắn,
  • Đất ruộng lúa nước Oryza sativa: Lúa.
  • Thảm cây nguyên liệu: Rừng trồng Tre, Luồng (Bambusa spp., Dendrocalamus spp.)
  • Nương rẫy: có diện tích khá lớn.
  • Thảm thực vật quanh bản làng: Cây ăn quả (Hồng bì Clausena sp., Ổi Psidium guava,) cây lấy gỗ (Xoan Melia azedarach, Lát Chukrasia tabularis) cây gia vị, cây nguyên liệu,…

II. Đa dạng loài sinh vật:

1. Hệ thực vật: Hệ thực vật bậc cao có mạch ở KBT Nam Động gồm 528 loài thuộc 407 chi, 128 họ, 52 bộ, 9 lớpvà 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Tuy có diện tích không lớn nhưng trong hệ thực vật của KBT chứa đựng các đại diện ở bậc taxon ngành của hệ thực vật Việt Nam. Cấu trúc hệ thống của hệ thực vật KBT Nam Động được thể hiện tại bảng 1:

Bảng 1. Đa dạng các bậc taxon của hệ thực vật

TT

Ngành

Tên Việt Nam

Lớp

Tỉ lệ %

Bộ

Tỉ lệ %

Họ

Tỉ lệ %

Chi

Tỉ lệ %

Loài

Tỉ lệ %

1

Psilotophyta

Khuyết lá thông

1

11,11

1

1,61

1

0,78

1

0,27

1

0,19

2

Lycopodiophyta

Thông đất

2

22,22

2

3,22

2

1,56

2

0,54

4

0,75

3

Polypodiophyta

Dương xỉ

2

22,22

5

8,06

13

10,15

18

4,86

29

5,5

4

Pinophyta

Thông

2

22,22

3

4,83

5

3,90

6

1,62

8

1,51

5

Magnoliophyta

Ngọc lan

2

22,22

41

66,13

107

83,60

343

92,7

486

92,04

Tổng

9

100

62

100

128

100

370

100

528

100

 

- Về giá trị tài nguyên thực vật: Trong 528 loài thực vật đang tồn tại, sinh trưởng và phát triển tại đây đã xác định được giá trị sử dụng thì nhiều loài cho nhiều công dụng khác nhau đã làm phong phú giá trị sử dụng với tổng số 868 công dụng. Trong đó, làm thuốc có 314 loài (59,47% tổng số công dụng), cho gỗ có 110 loài (20,83% tổng giá trị sử dụng), làm cảnh 118 loài (22,34% tổng số công dụng), làm thức ăn cho người có 45 loài (8,52% tổng số công dụng), ăn quả có 29 loài (5,5% tổng số công dụng) và các giá trị sử dụng: sợi, dầu, ăn quả và thức ăn gia súc,... cũng chiếm một tỷ lệ tương đối lớn. Tuy nhiên, nhóm giá trị về thuốc chiếm tỷ lệ lớn nhất với 314 loài, chiếm 59,47% tổng số công dụng và tiếp đến là nhóm giá trị: Uống, Ăn trầu, phân xanh, Bột giấy, Bóng mát, Thức ăn côn trùng, Trồng làm hàng rào, Bảo vệ đê, Đốt than, giá thể trồng nấm, Nhuộm với 151 loài, chiếm 28,6%. Đây là một nguồn tài nguyên rất có giá trị, phục vụ thiết yếu cho cuộc sống của cộng đồng trong vùng phân bố của hệ thực vật. Cần có chính sách qui hoạch bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này cho các thế hệ mai sau.

- Phổ dạng sống của hệ thực vật: Chiếm ưu thế thuộc vệ nhóm cây chồi trên với 455 loài (86,16% tổng số loài xác định được dạng sống) tiếp đến là nhóm cây chồi sát đất và nhóm cây chồi ẩn có 22 loài (mỗi nhóm chiếm 4,16% tổng số loài xác đinh được dạng sống), nhóm cây hằng năm (một năm) có 20loài (7,39% tổng số loài xác đinh được dạng sống)và cuối cùng là nhóm cây chồi nửa ẩn có 9loài (chiếm 1,7% tổng số loài xác đinh được dạng sống). Công thức phổ dạng sống của hệ thực vật: SB = 86Ph + 4Ch + 4Hm + 4Cr + 2Th.

Bảng 2. So sánh phổ dạng sống của hệ thực vật KBT Nam Động với phổ dạng sống tiêu chuẩn của Raunkier và phổ dạng sống rừng mưa nhiệt đới của Richard

Đơn vị để so sánh

Dạng sống

Ph (%)

Ch (%)

He (%)

Cr (%)

Th (%)

Phổ dạng sống tiêu chuẩn (theo Raunkier)

46

9

26

6

13

Phổ dạng sống rừng nhiệt đới mưa ẩm (theo Richard)

88

12

0

0

0

Hệ thực vật bậc cao KBT Nam Động

86

4

4

4

2

 

Từ bảng so sánh nhận thấy rằng tỉ lệ của các nhóm cây cấu thành nên phổ dạng sống của hệ thực vật bậc cao khu Bảo tồn loài Nam Động tiệm cận dần với phổ dạng sống của rừng nhiệt đới mưa ẩm (theo Richard) và phù hợp với phổ dạng sống tiêu chuẩn của Raunkier (1934). Từ đó cho thấy tính chất nhiệt đới của hệ thực vật KBT Nam Động.

- Mức độ nguy cấp của các loài quí hiếm: Kết quả đã ghi nhận được tổng số 44 loài thực vật quý hiếm tại KBT Nam Động theo các thang phân loại theo Nghị định 32 (2006), Danh lục đỏ của IUCN (2013) và Sách đỏ Việt Nam – Phần thực vật năm 2007:

+ Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP: Hệ thực vật KBT Nam Động có 9 loài, gồm có 4 loài thuộc nhóm IA (Thực vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) và 5 loài thuộc nhóm IIA (Thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại).

+ Theo thang phân loại của Sách đỏ Việt Nam: Hệ thực vật KBT Nam Động có 18 loài có tên gồm 4 loài Nguy cấp (EN); 14 loài Sẽ nguy cấp (VU);

+ Theo danh lục đỏ của IUCN năm 2013: Hệ thực vật KBT Nam Động đã xác định được 31 loài thực vật bậc cao có tên trong danh lục đỏ của IUCN.

+ Theo thang phân loại thì các loài có đủ dẫn liệu đánh giá được phân làm các cấp độ: cấp độ Nguy cấp (EN) có 4 loài, loài Sẽ nguy cấp (VU) có 2 loài,

Một số loài thực vật nguy cấp quý hiếm tại Khu bảo tồn

                       
                                                         Thông pà cò                                                                           Đỉnh tùng

                                     (Pinus kwangtungensis Chun ex Tsiang)                              (Cephalotaxus mannii Hook. f.)

2. Hệ động vật

2.1. Về Thú: Thông qua quá trình điều tra thực địa (quan sát, phỏng vấn, kết hợp với tài liệu trước đó) nhóm điều tra đã ghi nhận được 60 loài thú thuộc 20 họ, 08 bộ. Trong đó số loài quan sát trực tiếp được là 24 loài chiếm 40,0%; số loài ghi nhận qua phỏng vấn là 30 loài (50,0%).

- Về mặt phân loại học, bộ Ăn thịt có nhiều họ nhất (5 họ, chiếm 25,0% tổng số họ ghi nhận được), bộ Gặm nhấm và bộ Dơi có 04 họ (chiếm 20,0%), bộ Linh trưởng và bộ guốc chẵn có 02 họ (chiếm 10,0%). Các bộ Chuột voi, bộ Ăn sâu bọ, bộ Nhiều răng đều có 01 họ chiếm 5,0% tổng số họ ghi nhận được (bảng 3).

Bảng 3. Cấu trúc khu hệ Thú tại KBT Nam Động

TT

Bộ

Số họ

Tỉ lệ % họ

Số loài

Tỉ lệ % loài

1

Bộ chuột voi

1

5.00

1

1.67

2

Bộ ăn sâu bọ

1

5.00

1

1.67

3

Bộ nhiều răng

1

5.00

1

1.67

4

Bộ dơi

4

20.00

14

23.33

5

Bộ linh trưởng

2

10.00

7

11.67

6

Bộ ăn thịt

5

25.00

14

23.33

7

Bộ guốc chẵn

2

10.00

2

3.33

8

Bộ gặm nhấm

4

20.00

20

33.33

Tổng số 08 bộ

20

100

60

100

- Xét về đa dạng loài họ Chuột có nhiều loài nhất (10 loài, chiếm 16,67% tổng số loài ghi nhận được); tiếp đến là họ sóc cây có 7 loài (11,67%); họ Dơi nếp mũi có 6 loài (10,0%); họ Khỉ và họ Cầy có 5 loài (8,33%); họ Dơi muỗi, họ Chồn, họ Mèo, họ dơi quả có 3 loài (5,0%); các họ Nhím, Cu li và họ Gấu có 2 loài (3,33%); các họ Dúi, họ Lợn, họ Cầy lỏn, họ Dơi thò đuôi, họ Trâu bò, họ Đồi, họ Chuột chù, họ Chuột voi là những họ duy nhất chỉ có 1 loài (chiếm 1,67%).

- Các loài thú quý hiếm tại KBT Nam Động: Việc xác định các loài thú nguy cấp, quý hiếm là một trong những nội dung quan trọng cho hoạt động quản lý bảo tồn động vật hoang dã của KBT. Giá trị bảo tồn khu hệ Thú là khá cao với tổng số 24 loài chiếm 40,0% tổng số loài thú được liệt kê trong các mức độ nguy cấp khác nhau trong đó: Có 20 loài (chiếm 33,33%) được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 bao gồm: 06 loài được xếp ở mức nguy cấp (EN), 13 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU), và 01 loài gần bị đe dọa (NT); Trong Danh lục Đỏ thế giới ghi nhận 24 (chiếm 40,0%) trong đó 01 loài nguy cấp (EN), 10 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU); 03 loài ở mức sắp bị đe dọa (NT) và 10 loài ít lo ngại (LC); Trong nghị định 32 NĐ-CP ghi nhận 18 loài (chiếm 31,67%) trong đó: 11 loài nhóm IB, 07 loài nhóm IIB. Trong khi đó có 09 loài (chiếm 15,0%) được liệt kê trong Nghị định 160 NĐ-CP. Ngoài ra có 20 loài (chiếm 33,33%) được liệt kê trong Công ước CTIES với 10 loài thuộc phụ lục I, 07 loài trong phụ lục II, và 03 loài trong phụ lục III.

2.2. Về khu hệ Chim: Qua điều tra tại Khu BT Nam Động ghi nhận 101 loài chim thuộc 38 họ, 10 bộ tại khu vực nghiên cứu (bảng 4). Trong đó quan sát (quan sát, tiếng kêu và thu mẫu) 71 loài chiếm 70,3% tổng số loài ghi nhận được; phỏng vấn ghi nhận được 30 loài chiếm 29,7% tổng số loài ghi nhận được.

- Về mặt phân loại học bộ Sẻ có nhiều họ nhất 23 họ chiếm 60,53% tổng số họ ghi nhận được; bộ Sả có 03 họ (chiếm 7,89%); bộ Gõ kiến, bộ Cắt, bộ Cu cu, bộ Gà có 2 họ (chiếm 5,26%); các bộ Bồ câu, bộ Yến, bộ Cú, bộ Nuốc đều có 1 họ (chiếm 2,63%). Đa dạng phân loại học lớp chim được thể hiện ở bảng 4.

 

Bảng 4. Bảng tổng kết số bộ, họ và loài chim ghi nhận tại KBT Nam Động

TT

Bộ

Số họ

Tỉ lệ % họ

Số loài

Tỉ lệ % loài

1

Bộ Cắt

2

5.26

4

3.96

2

Bộ Gà

2

5.26

3

2.97

3

Bộ Bồ câu

1

2.63

5

4.95

4

Bộ Cu cu

2

5.26

5

4.95

5

Bộ Cú

1

2.63

1

0.99

6

Bộ Yến

1

2.63

1

0.99

7

Bộ Nuốc

1

2.63

1

0.99

8

Bộ Sả

3

7.89

6

5.94

9

Bộ Gõ kiến

2

5.26

6

5.94

10

Bộ Sẻ

23

60.53

69

68.32

 

Tổng số 10 bộ

38

100.00

101

100.00

- Xét về đa dạng loài, họ Khướu có số lượng loài nhiều nhất với 14 loài, chiếm 13,86% tổng số loài ghi nhận được; họ Đớp ruồi có 09 loài (8,91); họ Chào mào có 06 loài (5,94%); họ Chim chích, họ Bồ câu, họ Gõ kiến có 05 loài (4,95%); họ Chích chòe, họ Chèo bẻo có 04 loài (3,96%); họ Phường chèo, họ Chìa vôi, họ Bói cá, họ Cu cu, họ Ưng có 03 loài (2,96%); Các họ họ Trĩ, họ Bìm bịp, họ Sả rừng, họ Mỏ rộng, họ Bách thanh, họ Bạc má, họ Chim sâu, họ Hút mật, họ Sáo đều có 02 loài (1,98%) và các họ đều có 1 loài (chiếm 0,99%) là họ Bạc má đuôi dài, họ Chim di, họ Sẻ, họ Nhạn rừng, họ Rẻ quạt, họ Quạ, họ Chiền chiện, họ Chim xanh, họ Nhạn, họ Cu rốc, họ Trảu, họ Yến, họ Nuốc, họ Cú mèo, họ Gà phi, họ Cắt.

- Các loài chim quý hiếm tại KBT Nam Động: Nhìn chung, hầu hết các loài chim điều tra được tại khu vực đều ít có nguy cơ bị đe dọa. Trong tổng số 101 loài đã ghi nhận được có 08 loài (chiếm 7,92%) thuộc các loài quý, hiếm có giá trị bảo tồn. Trong đó có 06 loài (5,94%) được liệt kê trong Danh lục đỏ Thế giới và đều xếp hạng ít quan tâm (LC); Có 03 loài (2,97% tổng số loài ghi nhận được) nằm trong phụ lục II- hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại được liệt kê trong Nghị đinh 32 của Chính Phủ. Trong khi đó Công ước CITES cũng có 07 loài (6,93%) được liệt kê trong phụ lục II của Công ước CITES.

2.3. Về Khu hệ Bò sát, Ếch nhái:  KBT Nam Động đã ghi nhận được tổng số 29 loài Bò sát thuộc 14 họ, 2 bộ. Trong đó quan sát 18 loài (chiếm 62,0% tổng số các loài ghi nhận được) và phỏng vấn ghi nhận 11 loài (38,0%). Về Ếch nhái ghi nhận được tổng số 25 loài Ếch nhái thuộc 07 họ, 01 bộ. Trong đó quan sát trực tiếp được 22 loài (chiếm 88,0% tổng số các loài ghi nhận được), phỏng vấn ghi nhận 3 loài (12,0%).

- Xét về mặt phân loại học, bộ Có vảy có nhiều họ nhất (10 họ, chiếm 26,32% tổng số họ bò sát, ếch nhái ghi nhận được), tiếp đến là bộ Không đuôi có 07 họ (chiếm 18,42%), bộ Rùa có 04 họ (chiếm 10,53%). Đa dạng phân loại học lớp Bò sát, Ếch nhái tại KBT Nam Động được trình bày tại  bảng 5.

Bảng 5. Bảng tổng kết số bộ, họ và loài Bò sát, Ếch nhái tại KBT Nam Động

TT

Bộ

Số họ

Số loài

 

BÒ SÁT

 

 

1

Bộ có vảy

10

23

2

Bộ rùa

4

6

 

ẾCH NHÁI

 

 

3

Bộ không đuôi

7

25

Tổng số 03 bộ

21

53

          - Xét về đa dạng loài cho thấy họ họ Ếch nhái có số lượng loài nhiều nhất với 09 loài, chiếm 16,67% tổng số loài Bò sát, Ếch nhái ghi nhận được; Họ Rắn nước có 08 loài (14,81%); Họ Nhái chính thức, họ Ếch cây có 05 loài (chiếm 9,26%); Họ Rùa đầm, họ Nhông, họ Nhái bầu có 03 loài (chiếm 5,56%); Họ Thằn lằn bóng, họ Tắc kè, họ Rắn hổ, họ Rắn lục, họ Cóc, họ Cóc bùn có 02 loài (chiếm 3,70%) và các họ có 01 loài (chiếm 1,85%) bao gồm họ Rùa núi, họ Ba ba, họ Rùa đầu to, họ Rắn ri, họ Rắn mống, họ Nhái bén, họ Trăn và họ Kỳ đà.

- Các loài Bò sát, Ếch nhái quý hiếm tại KBT Nam Động: Trong tổng số 54 loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu có 17 loài bị đe dọa từ mức sẽ nguy cấp (VU) trở lên chiếm 31,48% tổng số các loài ghi nhận được (bảng 3.14). Trong đó Danh lục Đỏ thế giới năm 2015 có 13 loài (24,07%), với 01 loài xếp ở cấp cực kỳ nguy cấp (CR), 04 loài xếp ở mức nguy cấp (EN), 02 loài xếp ở mức sẽ nguy cấp (VU). Có 13 loài (chiếm 24,07%) được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, trong đó có 01 loài xếp ở mức cực kỳ nguy cấp (CR), 06 loài xếp ở mức nguy cấp (EN), 06 loài xếp ở mức sẽ nguy cấp (VU). Có 01 loài (chiếm 1,85%) được liệt kê vào danh sách các loài nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ trong Nghị định 160/ 2013/NĐ-CP. Trong khi đó có 07 loài (12,96%) nằm trong phụ lục II- hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại được liệt kê trong Nghị đinh 32 của Chính Phủ. Ngoài ra có 08 (chiếm 14,81%) loài được liệt kê trong phụ lục của công ước CITES, trong đó có 01 loài ở phụ lục I, 06 loài ở phụ lục II, 01 loài ở phụ lục III.

2.4. Về Côn trùng: Tại KBT Nam Động ghi nhận có 57 loài, 46 giống, 24 họ, 11 bộ. Trong đó bộ Cánh vẩy có số lượng loài lớn nhất với 27 loài, 20 giống, 8 họ. Sở dĩ có sự phong phú đó bởi vì khu vực nghiên cứu có điều kiện môi trường thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm. Mặt khácđây là nơi cư trú, nguồn thức ăn phong phú và dồi dào cho các loài côn trùng.

- Đánh giá mức độ đa dạng loài của các họ và giống côn trùng: Với 11 bộ côn trùng, mỗi bộ có nhiều họ, giống, loài khác nhau. Kết quả thống kê ở bảng sau đây cho thấy mức độ đa dạng loài của các giống côn trùng:

Bảng 6: Mức độ đa dạng loài của Taxon giống

Giống có

1 loài

2 loài

3 loài

4  loài

5 loài

6 loài

7 loài

Số giống

41

3

1

0

0

0

1

%

89.13

6.52

2.17

0.00

0.00

0.00

2.17

Bảng 6 cho thấy có tới 89,13% số giống chỉ mới thu được 1 loài. Số giống thu được nhiều loài nhất chiếm tỷ lệ rất ít chỉ chiếm 2.17%.

Mức độ đa dạng loài của các giống côn trùng như sau:

Bảng 7: Mức độ đa dạng loài của Taxon họ

Giống có

1 loài

2 loài

3 loài

4  loài

5 loài

6 loài

7 loài

Số họ

9

8

2

1

3

0

1

Tỷ lệ %

37.50

33.33

8.33

4.17

12.50

0.00

4.17

 

  Bảng 7 cho thấy tại khu vực nghiên cứu là họ có một loài chiếm tỷ lệ cao nhất 37,50%, họ thu được nhiều loài nhất chiếm tỷ lệ rất ít chỉ chiếm 4.17%.

-  Đánh giá độ bắt gặp của các loài côn trùng: Để đánh giá mức độ bắt gặp của các loài côn trùng tại KBT Nam Động căn cứ vào tỷ lệ Pi%. Kết quả thu được như sau:

Bảng 8: Tỷ lệ % của các loài côn trùng thuộc ba nhóm

P%

Số loài

%loài

Phân bố

<25%

35

60.34

Ngẫu nhiên

25-50%

15

25.86

Không đều

>50%

8

13.79

Đều

Tổng

58

100.00

 

 

- Kết quả điều tra thấy rằng phần lớn phân bố các loài bướm ngày ở khu vực có dạng phân bố ngẫu nhiên (chiếm 60,34 %); 8 loài côn trùng có phân bố đều (chiếm 13,79 %). Các loài có phân bố không đều: 15 loài (chiếm 25,86 %).

Một số loài thực vật nguy cấp quý hiếm tại Khu bảo tồn

              

                          Voọc xám (Trachypithecus phayrei)                                           Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus)

Kết quả điều tra đã bổ sung mới cho KBT Nam Động 155 loài thực vật, 40 loài thú, 101 loài chim, 56 loài bò sát, ếch nhái so với kết quả nghiên cứu trước đây./.

 

Page 1 of 4 1 2 3 4 > >>