-July 2019+
SMTWTFS
30123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031123
45678910

Ngày 25 tháng 12 năm 2015, thừa ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh tại Quyết định số 4984/QĐ-UBND ngày 27/11/2015, Hội đồng nghiệm thu cấp tỉnh tổ chức họp, đánh giá kết quả thực hiện dự án “Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học, sinh thái học của các loài hạt trần quý, hiếm; thử nghiệm gây trồng loài Thông đỏ đá vôi, Đỉnh tùng phục vụ công tác bảo tồn bền vững tài nguyên đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động”. 

Statistics

  • Entries (55)
  • Comments (135)

PHÁT HIỆN VÀ MÔ TẢ MỘT LOÀI THỰC VẬT MỚI THUỘC CHI AILANTHUS (HỌ SIMAROUBACEAE) TRÊN CƠ SỞ MẪU HÓA THẠCH Ở CAO NGUYÊN TÂY TẠNG, TRUNG QUỐC 

Trong quá trình điều tra và nghiên cứu về đa dạng sinh học và cổ thực vật ở khu vực cao nguyên Tây Tạng (TP), Trung Quốc, một nhóm các nhà khoa học từ Vườn Thực vật nhiệt đới Xishuangbana, Viện Thực vật Côn Minh, Viện Cổ sinh động vật có xương sống và nhân chủng học (Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc), Viện Nghiên cứu khoa học cổ sinh Birbal Sahni (Ấn Độ), Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), đã phát hiện và mô tả một loài thực vật mới thuộc chi Ailanthus (
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Friday, July 19, 2019 10:01:00 AM

Mẫu hóa thạch thực vật thu thập được mang quả có cánh, là taxon thuộc chi Ailanthus (họ Simaroubaceae). Đây là loài có cánh lớn nhất so với các loài khác trong chi Ailanthus đã được tìm thấy, do đó loài mới được đặt tên là Ailanthus maximus J. Liu, T. Su et Z.-K. Zhou (Hình 1 & 2). Bên cạnh đặc điểm quả có cánh lớn (60 x 13.4 mm), loài mới còn phân biệt với các loài khác trong chi Ailanthus bởi đặc điểm hình thái như: gân chính ở mặt bụng cánh nằm gần mép của cánh và vết sẹo của vòi nhụy đính với phần giữa của hạt.

Những phát hiện hóa thạch của loài mới này đã khẳng định vùng phân bố rộng khắp của chi Ailanthus và củng cố nhận định rằng vùng cao nguyên Tây Tạng là trung tâm trung chuyển quá trình nhập cư của các taxa từ Nam Bán cầu lên phía Bắc Bán cầu.

A. maximus có đặc điểm hình thái tương tự với loài A. triphysa – loài này có phân bố tự nhiên ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới phía Nam châu Á, ở độ cao dưới 600 m, chỉ ra rằng vùng đất thấp nhiệt đới và cận nhiệt đới chiếm ưu thế ở cao nguyên Tây Tạng trong suốt giai đoạn Thế Cổ tân (Paleocene) đến Thế Tiệm tân muộn (Late Oligocene). Những vùng đất thấp nhiệt đới và cận nhiệt đới này cùng với vùng Bangong-Nujiang Suture Zone (BNSZ) và Yarlung-Zangpo Suture Zone (YZSZ) chiếm ưu thế ít nhất ở một vài khu vực trung tâm của cao nguyên Tây Tạng trong suốt giai đoạn Thế Cổ tân (Paleocene), tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trao đổi giữa các sinh vật qua cao nguyên Tây Tạng ở giai đoạn này.

Kết quả nghiên cứu được đăng trên tạp chí chuyên ngành: Palaeogeography, Palaeoclimatology, Palaeoecology, 524: 33-40, 2019.

https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0031018219300574?via%3Dihub

Hình 1. Mẫu hóa thạch của loàiAilanthusmaximusJ. Liu, T. Su et Z.-K. Zhou từ cao nguyên Tây Tạng. 1 & 2 thu ở Bangoin,Jianglang (latest Paleocene-Early Eocene, KUNPC-XZJL5-0816); 3 thu ở Nima (Late Oligocene, KUNPC-XZNM1-0006); 4 thu ở Dayu, Shuanghu (Late Oligocene, KUNPC-XZDY2-0132). S-Vết sẹo của vòi nhụy; V-gân chính ở mặt bụng cánh; Tỷ lệ=2 cm. (Liu et al. 2019)

Hình 2.6 loàiAilanthushiện đã được ghi nhận và đặc điểm hình dạng, kích thước của cánh.1, A. excels; 2, A. altissima; 3, A. triphysa; 4,A.vietnamensis; 5, A. fordii; 6, A. integrifolia. S-Vết sẹo của vòi nhụy; V-gân chính ở mặt bụng cánh; Tỷ lệ=2 cm. (Liu et al. 2019)

 

Nguồn tin: TS. Đỗ Văn Trường

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST

Tác giả: Phạm Khắc Hiếu

Tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii): Loài ngoại lai có tác động lớn đến đa dạng sinh học 

Posted by Nguyễn Tuấn Anh Monday, July 8, 2019 10:54:00 AM
Tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) là loài nước ngọt rất dễ thích nghi, có sức chịu đựng và phong phú có thể sống trong một loạt các môi trường thuỷ sinh. Nó có nguồn gốc từ Mexico và Hoa Kỳ và hiện đã thiết lập trên khắp thế giới do kết quả của việc du nhập làm thực phẩm. Các quần thể xâm lấn của loài đã được báo cáo xuất hiện ở châu Âu, châu Á, châu Phi, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Tác động bao gồm sự cạnh tranh quyết liệt với tôm bản địa, truyền các bệnh dịch tôm càng, giảm quần thể thực vật thủy sinh cỡ lớn, thay đổi chất lượng nước, ăn thịt và cạnh tranh với một loạt các loài thủy sản, và các tác động tiêu cực đối với ngành nông nghiệp và đánh bắt cá.

Hiện nay,  Tôm hùm nước ngọt được xếp vào danh sách các loài có nguy cơ xâm hại theo Thông tư liên tịch số 35/2018/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Tác động của tôm hùm nước ngọt:

Theo IUCN, Tôm hùm nước ngọt là một loài xâm lấn thành công, có thể nhanh chóng thiết lập quần thể và cuối cùng trở thành loài chủ chốt của hệ sinh thái. Việc du nhập Tôm hùm nước ngọt có thể gây ra những thay đổi đáng kể trong quần xã thực vật và động vật bản địa (Schleifstein, 2003).
P. clarkii có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tôm bản địa thông qua cạnh tranh và truyền bệnh ở trên tôm, giảm sự đa dạng của các loài thực vật thủy sinh bậc cao, thay đổi chất lượng nước và  đặc điểm trầm tích, tích lũy kim loại nặng, tương tác với các loài xâm lấn khác, gây thiệt hại cho hệ thống tưới tiêu nông nghiệp, tác động đến ngành công nghiệp đánh bắt cá, và giảm các quần thể động vật không xương sống, động vật thân mềm và động vật lưỡng cư thông qua mối quan hệ ăn thịt và cạnh tranh.
P. clarkii đã góp phần vào sự suy giảm đáng kể của tôm bản địa châu Âu trong họ Astacidae thông qua truyền của bệnh dịch tôm càng (Aphanomyces astaci) và cạnh tranh trực tiếp. Đặc biệt, các loài nguy cấp bao gồm loài Austropotamobius pallipes, Astacus astacus, Austropotamobius torrentium (Garcia-Arberas et al, 2009; Dehus et al, 1999; Gherardi, 2006, Gil -Sanchez & Alba-Tercedor, 2006). Người ta cũng nhận thấy loài Tôm hùm nước ngọt P. clarkii cũng cạnh tranh với tôm bản địa ở Nhật Bản (Kawai & Kobayashi, 2005).
Hoạt động ăn thực vật dữ dội của P. clarkii thường gây giảm sinh khối và đa dạng sinh học của thực vật thủy sinh cỡ lớn được ghi nhận tại hồ Chozas, Tây Ban Nha (Rodriguez et al, 2003); Hồ Naivasha, Kenya (Smart et al, 2002); Hồ Massaciuccoli, Ý (Gherardi et al, 1999); Hồ Doccia, Ý (Gherardi & Acquistapace, 2007); vùng đất ngập nước vùng Địa Trung Hải (Geiger et al, 2005); và bán đảo Iberia (Rodriguez et al, 2003 tại Cruz & Rebelo, 2007).
Ảnh hưởng khác của hoạt động kiếm ăn và hành vi đào hang của P. clarkii làm thay đổi chất lượng nước, tăng sự xáo trộn sinh học, và gia tăng giải phóng chất dinh dưỡng từ trầm tích (Angeler et al, 2001). Những thay đổi về đặc tính của nước làm thay đổi hệ sinh thái thủy sinh và được cho là gây ra sự bùng nổ của vi khuẩn lam cyanobacterium (Yamamoto, 2010). Các hiệu ứng này đã được ghi nhận trong Công viên Quốc gia Las Tablas de daimiel, Tây Ban Nha (Angeler et al, 2001); Alentejo, Bồ Đào Nha (Geiger et al, 2005); và Nhật Bản (Yamamoto, 2010).
Tác dụng đối với nông nghiệp và thủy sản đã được ghi nhận từ nhiều nơi trên thế giới. Các hành vi đào hang của P. clarkii thường gây tác động đê điều và các hệ thống tưới tiêu có thể dẫn đến mất nước và thiệt hại cho các cánh đồng (Holdrich, 1999; Yue et al, 2010a). Các ghi nhận này đã được phát hiện ở Trung Quốc (Yue et al, 2010a), Nhật Bản (Sako, 1987 trong Kawai & Kobayashi, 2005), Ai Cập (Hartnoll pers Comm.., Trong Holdich, 1999), Kenya (Picard, 1991 tại Arrignon et al , 1999), Ý (Gherardi et al, 2000), Tây Ban Nha (Holdrich, 1999), và Hoa Kỳ (Chang & Lange, 1967; Holdich, 1999). P. clarkii thường xuyên trở thành một loài ưu thế trong môi trường sống như ruộng lúa. Nếu có mặt trong công trình thủy lợi bao gồm hồ chứa, kênh dẫn nước của ruộng lúa, P. clarkii có thể gây thiệt hại kinh tế đáng kể do hoạt động đào hang làm thay đổi thủy văn, đất và gây rò rỉ nước, và gây thiệt hại cho cây lúa (Correia, 1993; Ilhéu và Bernardo 1993a, b, trong Oliveira và Fabião, 1998).
 
Nơi ghi nhận xâm hại của loài Tôm hùm nước ngọt
 
Loài đã được ghi nhận xâm hại tại Nhật Bản, Trung Quốc, Kenya, Ai Cập, Nam Phi, Mỹ và châu Âu.
 
Các biện pháp kiểm soát 
 
Biện pháp cơ học: Bao gồm dùng bẫy, lưới vợt, lưới vây và đánh bắt bằng điện. Đánh bẫy liên tục được sử dụng nhiều hơn đánh bẫy tập trung ngắn hạn, bởi đánh bẫy tập trung ngắn hạn có thể gây ra phản ứng đáp trả của quần thể, chẳng hạn như giảm độ tuổi trưởng thành của tôm non và tăng sản sinh trứng. Thành công trong việc kiểm soát quần thể loài tôm P. clarkii bằng cách loại bỏ chúng đã được ghi nhận ở hồ Naivasha (Kenya); ở đó người ta sử dụng bẫy và loại bỏ tôm ra khỏi thảm thực vật nổi nhằm mục đích phụ hồi lại các thực vật bản địa lớn. Các biện pháp kiểm soát khác có thể kể đến làthoát nước ao nuôi để bắt tận diệt tôm con, chỉnh dòng của các con sông, hoặc xây dựng cơ học hoặc hàng rào điện để hạn chế sự phát tán của loài tôm này.
Biện pháp hóa học: Hóa chất có thể được sử dụng để kiểm soát tôm bao gồm lân hữu cơ, clo hữu cơ và thuốc trừ sâu tổng hợp pyrethroid; những cá thể chịu các mức ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào kích thước của chúng, các cá thể kích thước nhỏ hơn thì bị ảnh hưởng nặng nề hơn. Furadan 5G (hoạt chất là carbofuran) có thể gây tử vong cho P.clarkii tại Kenya. Vì không có thuốc diệt trừ đặc hiệu đối với tôm càng, nên các động vật không xương sống khác, chẳng hạn như động vật chân đốt, cũng bị tiêu diệt theo tôm, và sau đó cần phải tái nhập các động vật không xương này. Có lý do để lo ngại về sự tích lũy và khuyếch đại sinh học của độc tố trong chuỗi thức ăn, mặc dù điều này không đáng lo ngại đối với thuốc trừ sâu tổng hợp pyrethroid. Một biện pháp hóa học khác là sử dụng pheromone (kích thích tố) đặc hiệu cho tôm càng hoặc thậm chí kích thích tố đặc hiệu loài để bẫy tôm hùm nước ngọt.
Biện pháp kiểm soát sinh học: Phương pháp kiểm soát sinh học có thể bao gồm việc sử dụng các động vật ăn thịt cá, sinh vật gây bệnh, và sử dụng các vi sinh vật sản xuất độc tố, ví dụ, vi khuẩn Bacillus thuringiensis var. israeliensis. 
 
Các chế tài của Việt Nam liên quan đến loài Tôm hùm nước ngọt
 
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 52 Luật Đa dạng sinh học “Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài ngoại lai đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép.”
Việc nhập khẩu, phát tán loài ngoài lai có nguy cơ xâm hại chưa được cấp phép là trái với quy định của pháp luật và có thể bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
 
Điều 246, Bộ Luật Hình sự 2015 quy định như sau:
 
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá từ 250.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc trong trường hợp vật phạm pháp trị giá dưới 250.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
c) Phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
 
Khoản 1, Điều 18, Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản có quy định:
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu thủy sản sống dùng làm thực phẩm, làm cảnh và giải trí chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép theo quy định.
 
Nguồn tin: Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (VEA)
 
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh

Tăng cường công tác quản lý và ngăn chặn hoạt động mua bán, khai thác trái phép các loài lan rừng 

Thời gian gần đây, tại một số huyện miền núi, nhất là khu vực có rừng tự nhiên xuất hiện tình trạng chặt cây rừng lấy phong lan, sau đó vận chuyển bán cho đầu nậu thu gom để đưa ra ngoài tỉnh và nước ngoài tiêu thụ, dẫn đến an ninh rừng có nguy cơ mất ổn định; đồng thời ở một số địa bàn thị trấn, thị tứ, khu du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và tại Thành phố Thanh Hóa, việc quảng cáo, bày bán phong lan rừng diễn ra công khai nhưng việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát, xử lý của chính quyền và cơ
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Monday, June 17, 2019 10:24:00 AM

Trước tình trạng đó, Chi cục Kiểm lâm đã chủ động tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Công văn số 6365/UBND-NN ngày 24/5/2019 về việc tăng cường quản lý, ngăn chặn việc chặt phá cây rừng tự nhiên lấy phong lan; mua bán, vận chuyển, tiêu thụ các loài phong lan có nguồn gốc từ rừng tự nhiên; theo đó, chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT để chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng như Công an, BCH Bộ đội Biên phòng, Cục Hải quan, Cục Quản lý thị trường tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và kịp thời ngăn chặn các hành vi vi phạm, đối tượng vi phạm, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. 

 

 

PHÁT HIỆN MỘT LOÀI VE SẦU ĐẦU DÀI (HEMIPTERA: FULGOROMORPHA: FULGORIDAE) MỚI CHO KHOA HỌC 

Các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam mới phát hiện và công bố một loài ve sầu đầu dài mới cho khoa học thuộc giống Neoalcathous Wang & Huang, 1989 (Hemiptera: Fulgoromorpha: Fulgoridae).
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Friday, June 7, 2019 2:32:00 PM

Trên thế giới mới chỉ có 3 loài thuộc giống ve sầu đầu dài này được công bố. Đây cũng là lần đầu tiên giống này được ghi nhận có mặt tại Việt Nam.

          Loài mới này được đặt tên theo địa điểm thu được mẫu chuẩn ở miền Trung: Neoalcathous annamica Constant & Pham, 2018.

          Việc công bố loài mới thuộc giống này ở Việt Nam đã mở rộng sự phân bố của giống. Một bản dịch mô tả giống Neoalcathous ban đầu bằng tiếng Trung Quốc được đưa ra và giống này được chuyển sang phân họ Aphaeninae.

          Loài mới này có thể được tách ra khỏi các loài đã biết khác của giống bằng việc kết hợp các đặc điểm sau:

          (1) Phần đầu kéo dài dài hơn pronotum;

          (2) đường gờ trên mắt hơi phát triển, gần như obsolete;

          (3) vùng giữa bên đường gờ của ngực trước  một dấu đen lớn.

          Kích thước: chiều dài cơ thể con đực (n = 2): 23,75 mm (23,7–23,8); chiều dài cơ thể + đầu con đực (n = 2): 27,8 mm.

          Mẫu vật nghiên cứu của loài Neoalcathous annamica Constant & Pham, 2018, được thu tại Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng. Những mẫu vật nghiên cứu này được lưu giữ tại Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

          Mô tả chi tiết của loài được đăng tải trên Tạp chí Belgian Journal of Entomology 59: 1–11.

Một số hình ảnh về loài mới:

Hình 1Loài Neoalcathous annamica;  A, nhìn từ mặt lưng. B, đầu, pronotum và mesonotum nhìn từ mặt lưng. C, nhìn từ mặt bụng. D, trán nhìn từ mặt bụng. E, nhìn từ mặt bên. F, đầu và ngực nhìn từ mặt bên.

 

Hình 2. Loài Neoalcathous annamica: A, bộ phận sinh dục con đực, nhìn từ phía bên trái. B, bộ phận sinh dục con đực, nhìn từ phía lưng. C, bộ phận sinh dục con đực, nhìn từ phía sau bụng. – An, anal tube. – Py, pygofer. – G, gonostylus.

Tin: Phạm Hồng Thái

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST

Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh

Hạt Kiểm lâm Thành phố tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát, bảo vệ các loài chim hoang dã tự nhiên trên địa bàn năm 2019. 

Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại công văn số 11985/UBND-NN ngày 03/10/2017; số 14276/UBND-NN ngày 12/11/2018 về việc tăng cường quản lý, bảo tồn, kiểm tra, kiểm soát và ngăn chặn hành vi bẫy bắt, vận chuyển, buôn bán các loài chim hoang dã trái phép và công văn chỉ đạo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh số 166/CCKL-BTTN ngày 25/4/2019 về tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, bảo vệ, bảo tồn các loài chim hoang dã tự nhiên năm 2019. Hạt Kiểm lâm Thành phố đã nghiêm túc t
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Tuesday, June 4, 2019 4:02:00 PM

Kết quả từ đầu năm 2019 đến nay đơn vị đã phối hợp với Đài TT-TH Thành phố và 02 huyện đưa tin 21 lần tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật về bảo vệ ĐVHD và các loài chim tự nhiên; tổ chức tuyên truyền lưu động được 78 cuộc; tại UBND các xã, phường, thị trấn đã tuyên truyền trên loa phát thanh được 114 lần vào các giờ cao điểm ít nhất 2 lần/ngày; tổ chức lồng nghép nội dung tuyên truyền thông qua 32 cuộc họp thôn, phố với trên 2300 lượt người tham gia.

ình ảnh Hạt Kiểm lâm thành phố phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng giăng lưới, bẫy bắt các loài chim hoang dã trái phép trên địa bàn TP Thanh Hóa.

 

Chỉ đạo KLV địa bàn tham mưu cho UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tập trung quyết liệt các giải pháp quản lý, bảo tồn chim hoang dã tự nhiên năm 2019; tiếp tục thực hiện theo các Quyết định thành lập Tổ kiểm tra, kiểm soát và ngăn chặn các hành vi săn bắn, bẫy bắt, vận chuyển, buôn bán trái phép các loài chim hoang dã; Thông báo về việc tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát và ngăn chặn các hành vi săn bắn, bẫy bắt, vận chuyển, buôn bán trái phép các loài chim hoang dã từ năm 2017, 2018 đã được Chi cục kiểm tra. Năm 2019, 100% các xã, phường, thị trấn có đầy đủ hệ thống văn bản chỉ đạo tăng cường quản lý lâm sản, động vật hoang dã và các loài chim tự nhiên.

Các địa phương đã rà soát, vận động, tuyên truyền nhân dân tự giác gỡ bỏ lưới, bẫy, săn bắt chim tự nhiên, không buôn bán trái phép các loài chim hoang dã. Tổ chức ký cam kết không vi phạm các quy định của pháp luật về săn bắn, bẫy bắt các ĐVHD và các loài chim hoang dã, chim di cư, chim bản địa tại các khu vực xã, phường trọng điểm, được 53 hộ, cá nhân cam kết từ năm 2017 đến nay, đa số cá hộ cơ bản chấp hành, không tái phạm và không có phát sinh thêm hộ nào vi phạm.

Kiểm lâm địa bàn đã tham mưu cho 37/37 xã, phường trên địa bàn TP Thanh Hóa; 15/15 xã, thị trấn huyện Đông Sơn và 28/28 xã, thị trấn huyện Thiệu Hóa đã thành lập, kiện toàn Tổ công tác liên ngành cấp xã, phường, thị trấn có thông báo phân công nhiệm vụ cụ thể, xác định địa bàn trọng điểm và có nội dung triển khai đầy đủ về việc quản lý, bảo tồn, kiểm tra, kiểm soát và ngăn chặn hành vi bẫy bắt, vận chuyển, buôn bán các loài chim hoang dã trái phép duy trì triển khai từ năm 2017 đến nay.

Hạt đã chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn phối hợp với lực lượng Công an, Quy tắc, Dân quân các xã, phường, thị trấn trọng điểm thuộc địa bàn TP Thanh Hoá, 02 huyện Đông Sơn, Thiệu Hóa tổ chức được 149 lần kiểm tra, kiểm soát tình trạng buôn bán rong và giăng lưới, bẫy bắt các loài chim tự nhiên trái phép tại xã Quảng Phú, Quảng Đông, Quảng Cát, Quảng Tâm, Quảng Thịnh, Quảng Thành, xã Hoằng Long, Hoằng Quang, P. Đông Hải, P. Điện Biên, P.Trường Thi, P. Lam Sơn, P. Tân Sơn, xã Đông Lĩnh - TPTH; Các xã Đông Tiến, Đông Yên, Đông Thịnh, Đông Quang, Đông Phú, Đông Hòa - huyện Đông Sơn và các xã Thiệu Phúc, Thiệu Tiến, Thiệu Vũ, Thiệu Ngọc, Thiệu Lý, Thiệu Thành, Thiệu Công - huyện Thiệu Hóa…

Phối hợp với các địa phương kiểm tra, nhắc nhở hộ dân có biểu hiện giăng lưới, bẫy bắt các loài chim hoang dã tự nhiên, cụ thể: Tại xã Quảng Thành đã kiểm tra, thu giữ được 20m lưới, xã Quảng Phú thu giữ 350m lưới và tại xã Hoằng Quang phối hợp Công an xã thu gom 100m lưới dùng để bắt chim đã được tiêu huỷ. Qua kiểm tra đến nay không còn tình trạng người dân giăng lưới, săn bắn, bẫy bắt trái phép các loài chim hoang dã tự nhiên trên toàn địa bàn.  buôn bán, vận chuyển chim dọc trên các địa bàn, tuyến phố, tuyến đường cơ bản đã được ngăn chặn và từng bước đi vào ổn định

Nguyễn Phi Long - Hạt Kiểm lâm TP. Thanh Hóa

Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa chăm sóc, cứu hộ, thả động vật rừng về môi trường tự nhiên 

Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa chăm sóc, cứu hộ, thả động vật rừng về môi trường tự nhiên
Posted by Admin Tuesday, May 21, 2019 1:46:00 PM

Sau 15 ngày chuyển về Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa chăm sóc, cứu hộ và cho tập làm quen với môi trường tự nhiên, 03 cá thể Khỉ mốc (Macaca assamensis) đã khỏe mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không còn biểu hiện sợ hãi, ăn, uống tốt và có thể thả về môi trường tự nhiên một cách an toàn.

Ngày 26/3/2019, Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa phối hợp với Ban quản lý Bản Lở, Ủy ban nhân dân xã Nam Động, huyện Quan Hóa tổ chức thả 03 cá thể Khỉ mốc (Macaca assamensis), trọng lượng 8,0 kg về môi trường tự nhiên tại khoảnh 5, tiểu khu 187, Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiến Nam Động (thuộc địa giới hành chính: Bản Lở, xã Nam Động, huyện Quan Hóa). Từ những hoạt động chăm sóc, cứu hộ động vật rừng và thả về môi trường tự nhiên như trên, đã góp phần tạo nên giá trị đa dạng sinh học, phát triển nguồn gen bền vững của Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiến Nam Động, huyện Quan Hóa./.

Một số hình ảnh về 03 cá thể Khỉ mốc (Macaca assamensis) được cứu hộ, chăm sóc, thả về môi trưởng tự nhiên

Đồng chí Lê Văn Sơn – Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa và đồng chí Lê Minh Tiến, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quan Sơn đang kiểm tra và nhận bàn giao chăm sóc, cứu hộ động vật rừng

03 Cá thể Khỉ mốc (Macaca assamensis) được đưa vào Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động để thả về môi trường tự nhiên 

Lê Văn Sơn

Phát hiện một loài rắn mới cho khoa học thế giới tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động - Tỉnh Thanh Hóa 

Một nhóm các nhà khoa học trong và ngoài nước do TS. Lưu Quang Vinh, chuyên gia động vật học của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam phụ trách, trong quá trình nghiên cứu đã phát hiện và mô tả một loài rắn mới cho khoa học thế giới tại Khu Bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Loài rắn mới này được đặt tên là Rắn Khuyết Nam Động (Lycodon namdongensis Luu, Ziegler, Ha, Le & Hoang 2019) theo địa danh thu mẫu để mô tả loài mới.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Saturday, May 4, 2019 9:43:00 AM

Đặc điểm nhận dạng chính khi trưởng thành: Dài thân khoảng 575 mm, dài đuôi khoảng 148 mm, không có nanh và không có tuyến nọc độc, có 12 răng hàm trên; vảy thân nhẵn, 17 hàng vảy quanh giữa thân, 218 vảy bụng, 85 đôi vảy dưới đuôi, 8 vảy môi, 10 vảy môi dưới, tấm má không chạm mắt, trên mặt lưng màu đen với 23 vạch ngang màu trắng ở phần thân và 14 vạch ngang màu trắng ở phần đuôi, bụng màu trắng đục.

Dựa trên các so sánh về sinh học phân tử, loài rắn mới này có ít nhất 6,5% sự khác biệt về mặt di truyền so với các loài khác trong cùng giống. Đây là loài rắn đặc hữu có vùng phân bố rất hẹp ở Nam Động, cần được nghiên cứu bảo tồn trong thời gian tới.

Phát hiện mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa 4586 (2): 261-277, ngày 17/4/2019. Thông tin chi tiết về loài mới này có thể tham khảo tại website: https://doi.org/10.11646/zootaxa.4586.2.3 

Ảnh: Rắn Khuyết Nam Động

Nguyễn Tuấn Anh

Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Tỉnh Đoàn tổ chức cuộc thi ảnh “Vì rừng xanh quê hương” 

Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy sức mạnh, vai trò xung kích, sáng tạo của Đoàn viên Thanh thiếu niên, qua đó tác động tích cực đến các bậc phụ huynh, quần chúng nhân dân trong thực hiện công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Tỉnh Đoàn tổ chức cuộc thi ảnh “vì rừng xanh quê hương”
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Friday, May 3, 2019 10:55:00 AM

- Đối tượng tham gia: Cán bộ, đoàn viên thanh thiếu nhi trong và ngoài tỉnh.

- Nội dung: Ảnh chụp phản ánh, hoặc thông điệp về: Chăm sóc, bảo vệ cây xanh, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; phát hiện các hành vi hoặc thực trạng phá hoại cây xanh, xâm hại tài nguyên rừng, các hành vi dẫn đến nguy cơ cháy rừng. Ảnh dự thi gửi qua địa chỉ Email: Banthanhniennongthontdth@gmail.com;  Ảnh được ban tổ chức lựa chọn, đăng tải trên fanpage Tỉnh đoàn Thanh Hóa.

- Cách thức bầu chọn: Ảnh (chùm ảnh) dự thi được ban tổ chức đăng tải trên Fanpage Tỉnh đoàn Thanh Hóa. Người dự thi kêu gọi like, share tác phẩm được đăng tải của mình. Ban tổ chức chấm theo lượt tương tác mạng xã hội từ thời điểm đăng tác phẩm trong tháng dự thi. Tác phẩm nào có tổng điểm từ lượt like (1like = 1 điểm), share (1 share = 2 điểm) cao nhất trong tháng (tính đến hết ngày 30 của tháng) là tác phẩm đạt giải.

- Cơ cấu giải thưởng:

+ 04 giải tháng cho các tác phẩm được bình chọn trong tháng, phần thưởng 1.000.000 đồng cùng giấy chứng nhận của Ban tổ chức

+ 01 giải cho tập thể có tác phẩm dự thi nhiều nhất trong 04 tháng phát động cuộc thi, phần thưởng 1.000.000 đồng cùng giấy chứng nhận của Ban tổ chức.

- Thời gian: từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2019.

- Yêu cầu: Ảnh, chùm ảnh hợp lệ là những ảnh không bị chỉnh sửa, cắt ghép; ảnh chụp trong năm 2019, không vi phạm bản quyền tác giả, không vi phạm các quy định khác của pháp luật; tác phẩm có dấu hiệu gian lận như: Hack like, hack share, like ảo, share ảo sẽ bị loại khỏi cuộc thi.

Tác giả: Bùi Viết Kính

Phát hiện và mô tả một loài Mộc hương mới cho khoa học ở Việt Nam 

Một loài thực vật, Mộc hương Núi Chúa (Aristolochia nuichuaensis), loài mới cho khoa học vừa được phát hiện và mô tả từ Vườn quốc gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Thursday, April 25, 2019 2:19:00 PM

Trên thế giới, chi Mộc hương (Aristolochia L.) gồm khoảng 600 loài phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, là một trong những nhóm thực vật quan trọng, có giá trị làm cảnh, làm thuốc hay cung cấp thức ăn cho sâu non thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae, Lepidoptera). Ở Việt Nam, chi này được biết khoảng 25 loài thuộc 2 phân chi Aristolochia và Siphisia.

Trong khi nghiên cứu đa dạng chi Mộc hương ở Việt Nam, các nhà khoa học thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Sinh thái học Miền Nam, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và cán bộ Vườn quốc gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận, đã phát hiện và mô tả một loài thực vật mới thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae) ở Vườn quốc gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam. Loài thực vật mới có tên khoa học là Mộc hương Núi Chúa, Aristolochia nuichuaensis V.T.Do & H.T.Luu.

Loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với các loài Aristolochia baenzigeri, A. bidoupensis,  A. petelotii; tuy nhiên, loài mới được phân biệt với các loài kể trên bởi những đặc trưng hình thái như: phiến lá hình tim, trục cụm hoa dài đến 20 cm, phần trên của ống bao hoa hình trụ, thuôn dài và hẹp hơn nhiều so với phần dưới, mặt ngoài duy nhất màu tím, mặt trong duy nhất màu trắng, môi hình chuông, đường kính 4.5-5 cm, thùy không cuộn lại, bề mặt ngoài màu trắng với nhiều đường gờ màu tím nổi rõ, bề mặt trong màu trắng với nhiều đường gờ lõm và mụn cơm, họng hình ellip, màu trắng; gynostemium với 3 thùy nhọn. Những đặc điểm hình thái trên đặt loài mới này trong phân chi Siphisia.

Đây là loài thứ 8 của phân chi Siphisia được phát hiện và mô tả gần đây ở Việt Nam và nâng tổng số loài củaphân chi Siphisia ở Việt Nam lên 16 loài. Chúng tôi cũng liệt kê thành phần loài, phân bố và xây dựng khóa định loại cho tất cả các loài của phân chi Siphisia ở Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu vừa được đăng trên tạp chí chuyên ngành Annales Botanici Fennici số 56, năm 2019. Thông tin chi tiết tham khảo tại: https://bioone.org/journals/annales-botanici-fennici/current.

Nguồn tin: TS. Đỗ Văn Trường

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Ảnh: Đặc điểm hình thái của Aristolochia nuichuaensis (Ảnh: Lưu Hồng Trường)

BA LOÀI MỚI CHO KHOA HỌC THUỘC CHI NEWMANIA (HỌ GỪNG-ZINGIBERACEAE) ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM 

Trong chương trình hợp tác nghiên cứu thực vật của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và viện Sinh thái học Miền Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với vườn thực vật Singapore từ năm 2012 đến nay, đã thu thập, nghiên cứu nhiều mẫu thuộc bộ Gừng (Zingiberales) ở Việt Nam. Kết quả, nhiều loài mới cho khoa học đã được phát hiện, trong đó, ba loài mới thuộc chi Newmania là N. cristata, N. gracilis và N. sontraensis vừa được mô tả và công bố
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Friday, March 29, 2019 2:11:00 PM

Trước đó, năm 2011, Jana Leong Škorničkova và cộng sự công bố một chi thực vật mới cho khoa học, Newmanina N.S. Lý & Škorničk thuộc họ Gừng (Zingiberaceae,) cùng với 2 loài mới là Newmanina serpens và N. orthostachys từ miền Trung Việt Nam. Năm 2014, loài thứ 3 trong chi này được mô tả, có tên khoa học là Newmania sessilanthera Lưu & Škorničk.

Cho đến nay, tổng số loài trong chi này ở Việt nam là 6 loài. Hiện chưa phát hiện nào về các loài thuộc chi Newmanina ở các nước lân cận hay trên thế giới, nên có thể tạm cho rằng, đây là chi đặc hữu của Việt Nam. Một số đặc điểm hình thái ngoài của các loài trong chi này rất giống đặc điểm của 2 chi Sa nhân (Amomum) và Gừng (Zingiber), đặc biệt khi mẫu vật đã ép, sấy khô càng khó phân biệt. Các loài thuộc chi Newmania phân bố ở miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam.

Tóm tắt đặc điểm 3 loài mới như sau:

1. Newmania cristata Luu, H.Đ.Trần & Škorničk., sp. nov.: Cây thảo, cao tới 100 cm, phiến lá hình thuôn hẹp, cỡ 12-24×3,5-7 cm (nhỏ hơn về phía trên). Cụm hoa mọc từ thân rễ, 10-14 hoa; hoa dài 4,5-5 cm; cánh môi màu tím đến tím đỏ, hình trứng ngược, cỡ 2-2,5×1,2-1,4 cm, đầu thường uốn ra phía ngoài, xẻ xuống 1-2 mm thành 2 thùy. Quả chưa thấy.

Phân bố: Ninh Thuận (Vườn Quốc gia Núi Chúa, huyện Ninh Hải).

2. Newmania gracilis Škorničk., Q.B.Nguyen & H.Đ.Trần, sp.nov.: Cây thảo, cao đến 80 cm. Phiến lá hình trứng đến trứng hẹp, cỡ 6,5-13×3-4 cm, nhẵn cả 2 mặt, gốc phiến tù, đầu nhọn. Cụm hoa mọc từ thân rễ, có 3-6 hoa, hoa dài đến 7 cm, cánh môi màu tím nhạt đến tím-hồng, hình trứng ngược rộng, cỡ 1,7-2,1×1,1-1,4 cm, các vân trắng tỏa từ gốc đến giữa cánh môi, dạng dẻ quạt, đầu khía sâu chia thành 2 thùy. Quả hình trứng, cỡ 3,5 × 1,4 cm.

Phân bố: Kon Tum (Kon Plông).

3. Newmania sontraensis H.Đ.Trần, Luu & Škorničk., sp.nov.: Cây thảo, cao đến 160 cm. Phiến lá hình thuôn đến thuôn hẹp, cỡ 12-22×4-5 cm, nhẵn cả 2 mặt. Cụm hoa mọc từ thân rễ, có 7-12 hoa; hoa dài 8-10,5 cm, cánh môi hình trứng đến thuôn, cỡ 28-35×16-18 cm, màu tím sẫm, có vân trắng ở giữa, gốc và 2 mép cánh môi. Quả hình trứng, cỡ 3-3,5×1.3 cm.

Phân bố: Thừa Thiên-Huế (Nam Đông), Quảng Nam (Đại Lộc.).

Hình ảnh loài Newmania gracilis

Hình ảnh loài Newmania sontraensis

 

Bài báo được đăng trên tạp chí Phytotaxa số 367 (2): 145–157 (2018).

Tin: Nguyễn Quốc Bình

Phòng Sinh học, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Tác giả: Phạm Khắc Hiếu

Page 1 of 6 1 2 3 4 5 6 > >>