-January 2021+
SMTWTFS
272829303112
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31123456

Ngày 25 tháng 12 năm 2015, thừa ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh tại Quyết định số 4984/QĐ-UBND ngày 27/11/2015, Hội đồng nghiệm thu cấp tỉnh tổ chức họp, đánh giá kết quả thực hiện dự án “Nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học, sinh thái học của các loài hạt trần quý, hiếm; thử nghiệm gây trồng loài Thông đỏ đá vôi, Đỉnh tùng phục vụ công tác bảo tồn bền vững tài nguyên đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động”. 

Statistics

  • Entries (98)
  • Comments (135)

Một số nghiên cứu về trà hoa vàng trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay 

Chi Trà hoa vàng đang được các nhà khoa học cũng như các nhà sản xuất, kinh doanh dược liệu quan tâm nghiên cứu, sản xuất; giới hạn trong nội dung bài báo, chúng tôi hệ thống một số nghiên cứu về chi Trà hoa vàng của các nhà khoa học trên Thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Wednesday, November 11, 2020 3:57:00 PM

Trên Thế giới:

 

Trà hoa vàng là chi thực vật có nhiều chủng loại phong phú, có nhiều tác dụng, theo thống kê trên thế giới có khoảng trên 300 loài và hàng chục biến chủng khác nhau (Trịnh Kim Thủy và cộng sự, 1994. Nghiên cứu chọn giống lai giống loài trà hoa vàng. Tạp chí đại học Lâm Nghiệp Bắc Kinh).

Những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên Trà hoa vàng được phát hiện ở Quảng Tây, Trung Quốc và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Từ đó, nó được các nước rất quan tâm nghiên cứu vì có một số công dụng đặc biệt.

Trà hoa vàng ưa khí hậu nóng ẩm, thường mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ suối có bóng râm, thoát nước tốt. Phạm vi phân bố tự nhiên rất hẹp, chỉ thấy mọc hoang ở vùng đồi gò 100-200m, huyện Ung Nhinh - Nam Ninh - Quảng Tây - Trung Quốc. Được đưa vào danh sách các loài cây bảo hộ cấp I của Trung Quốc.

Trong lá của Trà hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn), Vanadium .... Các hoạt chất trong lá, hoa củaTrà hoa vàng có tác dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch và kéo dài tuổi thọ. Germanium có hoạt tính sinh lý rất cao, có thể phát huy, tăng cường năng lực hấp thu O2 của tế bào, đảm bảo cung cấp dưỡng khí cho cơ thể, có lợi cho việc trao đổi chất. Germanium hữu cơ làm tăng sức đề kháng, chống u bướu, hạn chế tế bào u bướu phát triển, tăng khả năng miễn dịch, có tác dụng phòng và chống ung thư. Selenium có tác dụng chống oxy hoá, có thể tiêu trừ các gốc tự do có hại trong cơ thể, nâng cao năng lực tự bảo vệ, do đó kéo dài tuổi thọ. Vanadium có thể xúc tiến cơ năng tạo máu, giảm cholesterol trong huyết tương. Nghiên cứu lâm sàng chứng tỏ Trà hoa vàng giúp giảm mỡ máu rõ rệt hơn alpha-Napthothiourea, thuốc đã được thế giới công nhận về công dụng giúp giảm mỡ máu (Lương Thịnh Nghiệp, 2000. Trung Quốc danh ưu Trà hoa. NXB Kim Thuần - Bắc Kinh).

Các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư. Giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33,2%... Chất chiết xuất từ Trà hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36,1% lượng lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp sử dụng tân dược hiện nay. Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Trà hoa vàng "có những công dụng y học vô giá" (Sơn Tùng, 2008. Camellia - Siêu trà bị lãng quên).

Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Trà hoa vàng (trên 20 loài và biến chủng) và đi sâu nghiên cứu các mặt cấu tạo gỗ, nhiễm sắc thể, đặc trưng hình thành phấn hoa, lai giống và nhân giống Trà hoa vàng (Trịnh Kim Thủy và cộng sự, 1994. Nghiên cứu chọn giống lai giống loài trà hoa vàng. Tạp chí đại học Lâm Nghiệp Bắc Kinh).

Hiện nay, công ty Phú Tân (tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc) đã chế biến thành công trà túi lọc từ Trà hoa vàng, tinh trà và dịch Trà hoa vàng thành loại nước uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường thế giới, đặc biệt sản phẩm Golden Camellia có giá tới 4.67 triệu đồng/ chai. Đây là hướng sử dụng Trà hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người (Sơn Tùng, 2008. Camellia - Siêu trà bị lãng quên).

Ngoài ra, các nghiên cứu của nước ngoài cũng chỉ ra rằng, Trà hoa còn có khả năng hấp thu CO2, H2S, Cl, HF và các thể khí độc hại khác, có tác dụng bảo vệ môi trường mạnh, làm sạch không khí, Một công viên Trà hoa vàng đã được xây dựng tại Nam Ninh - Trung Quốc để phục vụ người dân thăm quan và là nơi bảo vệ nguồn gen cho các nhà khoa học nghiên cứu.

Ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, Trà hoa vàng có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc nước ta như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai..., chúng thường mọc ở độ cao 300 - 800m so với mặt nước biển, phần lớn là trong rừng thứ sinh, xen giữa các nương rẫy, ở một số địa hình quá dốc hoặc nhiều đá lộ đầu, ven khe suối cạn (Sơn Tùng, 2008. Camellia - Siêu trà bị lãng quên).

Mặc dù đã phát hiện Trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng đến nay công tác bảo tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn bỏ ngỏ. Không chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong sách đỏ Việt Nam mà hàng chục loài Trà hoa vàng khác đều đang trong tình trạng nguy cấp. Trước mắt, chủ yếu là bảo tồn tại chỗ, đồng thời nghiên cứu di thực về trồng khảo nghiệm tại Đà Lạt, vườn Quốc gia Tam Đảo. Trong tương lai, để bảo tồn và quản lý bền vững nguồn gen quý này, cần tập trung nhân giống để trồng với quy mô lớn.

Trà hoa vàng Hàm Yên

 

Trà hoa vàng là cây thân gỗ nhỏ, thường xanh, cao khoảng 2-5m, cành thưa, vỏ cây màu vàng xám nhạt. Lá đơn mọc cách, dài hẹp hình tròn. Hàng năm, cứ đến tháng 4-5 đâm lộc, ra lá mới, sau 2-3 năm lá già mới rụng. Tháng 11, bắt đầu nở hoa, hoa kéo dài đến tháng 3 năm sau. Hoa mọc ở nách lá mới mọc riêng lẻ. Màu vàng kim có sáp bóng, đẹp mắt, long lanh khiến con người cảm giác nửa trong suốt. Hoa dạng cốc hoặc bát, thế hoa đa dạng và kiều diễm (Ngô Quang Đê, 2001. Trà hoa vàng (Camellia sp) nguồn tài nguyên quí hiếm cần bảo vệ và phát triển. Tạp chí Việt Nam hương sắc số 92 tháng 5 - 2001. P 10 – 11).

Trà hoa vàng có giá trị kinh tế và y dược rất cao. Lá có thể pha uống, làm thuốc chữa kiết lỵ và rửa vết thương, lở loét. Hoa chữa tiêu chảy ra máu, cũng có thể dùng làm màu thực phẩm. Gỗ cứng có thể làm đồ dùng gia đình và hàng mỹ nghệ. Hạt có thể để ép lấy dầu.

Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ, chịu bóng, thường mọc dưới tán các cây khác trong rừng tự nhiên. Do đó Trà hoa vàng có khả năng trồng làm cây tầng dưới cho các đai rừng phòng hộ nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn. Cây có nhiều lá, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt.

Trà hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa từ trung bình đến lớn, có đường kính 4 - 8cm. Do có hoa đẹp, nhiều loài nở hoa vào dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây Trà hoa vàng dã sinh về trồng làm cảnh ở sân vườn. Hiện chỉ có giá trị cảnh quan được quan tâm đến, còn các giá trị về sinh, dược học chưa được quan tâm và khai thác (Trần Ninh, 2002. Kết quả nghiên cứu phân loại các loại trà hoa vàng của Việt nam. Proceedings of the first National Symposium on yellow Camellia of Viet Nam Tam Đao 8 - 10 Jan. 2002. P 9 – 14).

Nhân giống Trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom

 

Trà hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về Trà hoa vàng không đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau. Những năm 90 của thế kỷ XX, Trà hoa vàng mới được quan tâm điều tra nghiên cứu về hình thái, phân loại Trà hoa vàng (Trần Ninh, 2002. Kết quả nghiên cứu phân loại các loại trà hoa vàng của Việt nam. Proceedings of the first National Symposium on yellow Camellia of Viet Nam Tam Đao 8 - 10 Jan. 2002. P 9 – 14).

Đỗ Đình Tiến (2000) đã nghiên cứu về nhân giống bằng hom cũng được thực hiện cho loài C. petelotii; C. tonkinensis và C. euphlebia đạt tỷ lệ ra rễ từ 70% - 86%. Theo thống kê hiện nay có khoảng 196 loài trà, chia làm 4 á chi và nhiều chủng, biến chủng. Việt Nam có khoảng 26 loài trà, chủ yếu ở miền Bắc. Trong những năm gần đây nhiều người nhà nghiên cứu nước ngoài (Úc, Pháp, Anh, Nhật...) đã tới Việt Nam nghiên cứu, tìm hiểu về các giống, đặc biệt là Trà hoa vàng. Trà hoa phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới, nóng ẩm và có mùa đông, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng được trên nhiều loại đất, trong đó đất tơi xốp, thoát nước, đất chua có độ pH từ 4,5 - 5,5 là thích hợp nhất. Trà hoa đang là loài quý hiếm, chưa nơi nào trồng với diện tích lớn. Một số loài không có nhị (bạch trà) nên không có quả. Vì vậy phương pháp nhân giống chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính (chiết, ghép, giâm hom, nuôi cấy mô), trong đó cách giâm hom là đơn giản và có tỷ lệ cây sống cao (Ngô Quang Đê, 2001. Trà hoa vàng (Camellia sp) nguồn tài nguyên quí hiếm cần bảo vệ và phát triển. Tạp chí Việt Nam hương sắc số 92 tháng 5 - 2001. P 10 – 11).

Nghiên cứu về nhân mã hóa rARN 5,8s ở loài Trà hoa vàng C. petelotii của vườn quốc gia Tam Đảo được thực hiện bởi Nguyễn Thị Nga và cộng sự (2003) với mục đích xác định chính xác phân loại loài này với loài C. chrysantha của Trung Quốc. Kết quả cũng chỉ dừng ở việc tách chiết được ADN tổng số và đã nhân được đoạn gen mã hoá rARN 5,8S ở loài Trà C. petelotii với cặp mồi thiết kế đặc hiệu cho chi Camellia còn cụ thể loài C. petelotii và C. chrysantha của Trung Quốc có phải là cùng một loài hay không thì chưa thấy đề cập (Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Văn Mùi, Trương Quốc Phong, 2003. Nhân gen mã hóa RARN 5,8S ở loài trà hoa vàng Camellia petelotii Vườn Quốc gia Tam Đảo. Tạp chí Di truyền học và ứng dụng. Số 3, 2003).

Viện Dược liệu (Bộ Y tế) có công trình "Bước đầu khảo sát thành phần hóa học của một số loài Trà hoa vàng Camellia spp ở Việt Nam". Kết quả của đề tài khoa học này cũng mới chỉ dừng lại ở mức "khiêm tốn" là xác định được một số nhóm chất của 5/20 loại Trà hoa vàng bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng.

Gần đây đề tài “Nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) và nhân giống một số loài Trà hoa vàng nhằm bảo vệ và phát triển” đã được thực hiện cho hai loài C. tonkinensis và C. euphlebia. Đề tài đã tìm hiểu điều kiện sống của 2 loài Trà hoa vàng Ba Vì và Sơn Động làm cơ sở cho việc xác định biện pháp kĩ thuật gây trồng nó sau này. Việc tìm thấy loài Trà hoa vàng Ba vì (Camellia tonkinensis) là thành công do trước đây năm 1995 Rosmann đã đi tìm nhưng chưa thấy và tưởng loài này đã mất. Đề tài đã giâm hom cho 2 loài này đạt tỉ lệ ra rễ và sống 50 – 80,6%. Lần đầu tiên phân tích các nguyên tố vi lượng trong lá Trà hoa vàng Ba Vì và Sơn động tại nơi sinh sống tự nhiên của chúng (Ngô Quang Đê và cộng sự, 2008. Khảo sát điều kiện sống của Trà hoa vàng Ba Vì (Hà Tây)và Trà hoa vàng Sơn Động (Bắc Giang). Tạp chí khoa học Lâm Nghiêp số 4 - 2008. P 806 – 810).

Trên báo Lâm Đồng điện từ số ra ngày 6/8/2008 của tác giả Sơn Tùng (2008) có tiêu đề “Camellia - Siêu trà bị lãng quên” cho biết các công dụng về giá trị dược học của Trà hoa vàng và mà cũng chỉ ra việc khai thác đúng mức tài nguyên này ở Việt Nam còn bị bỏ ngỏ

Các công trình nghiên cứu đã công bố của các nhà khoa học trong và ngoài nước về Trà hoa vàng là nguồn tư liệu quan trọng trong nghiên cứu chuyên sâu về các loài Trà hoa vàng, từ đó có giải pháp bảo tồn và phát triển các loài Trà hoa vàng trong tương lai./.

Tác giả: Lê Nguyên Chất

Ngăn chặn tình trạng săn bắt chim hoang dã 

Hằng năm, vào cuối tháng 9 đến tháng 12, khu vực các huyện, thị xã ven biển, như: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, TP Sầm Sơn, thị xã Nghi Sơn, Nông Cống là địa bàn tập trung nhiều đàn chim trời về cư trú, sinh sống. Đây cũng là thời điểm một số người dân địa phương giăng sẵn các loại bẫy để săn bắt chim trời.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Wednesday, November 4, 2020 4:02:00 PM

Địa điểm mà người dân chọn làm nơi đặt bẫy chim trời thường ở các cánh đồng lúa đã được thu hoạch, có thêm những bụi cây lớn, rậm rạp hoặc những vũng nước nông. Tại đây, họ găm các con cò giả được làm bằng xốp rồi cắm các thanh tre đã được quệt chất keo dính ở khắp nơi, từ giữa ruộng, bờ bao cho tới các lùm cây. Một số nơi, người dân còn dùng các thiết bị công nghệ để phát ra tiếng kêu để bẫy các loại chim trời. Một khi chim trời đã bị dính thì khó có thể thoát ra được. Điều này dẫn tới số lượng chim trời ngày càng giảm sút, ảnh hưởng đến cân bằng đa dạng hệ sinh thái.

Hạt Kiểm lâm ven biển phối hợp với chính quyền xã Quảng Định (Quảng Xương) tháo dỡ lưới bẫy chim trời.

 

Để hạn chế tình trạng giăng bẫy săn bắt chim trời, thời gian qua Hạt Kiểm lâm ven biển đã phối hợp với các phòng, ban chuyên môn của các huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương, TP Sầm Sơn ban hành các văn bản chỉ đạo UBND các xã, phường triển khai thực hiện công tác quản lý, bảo tồn và ngăn chặn hành vi xâm hại các loài chim hoang dã, chim di cư; phối hợp với các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về công tác quản lý, bảo vệ các loài chim hoang dã qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở; vận động người dân tự nguyện tháo dỡ các loại bẫy, lưới và giao nộp các loại súng săn, vũ khí, vật liệu nổ để săn bắn chim trời; tổ chức cho 55 hộ dân thường xuyên vi phạm đặt bẫy chim tại TP Sầm Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương ký cam kết không tái vi phạm việc săn bắt chim trời; phối hợp với các địa phương ra quân kiểm tra, kịp thời phát hiện, tịch thu, phá dỡ, tiêu hủy các bẫy lưới giăng, các dụng cụ bẫy bắt chim. Từ đầu tháng 9-2020 đến nay, đơn vị đã tháo dỡ, tiêu hủy 1.000m lưới bẫy, 35 bẫy sập, 4 lều cò tại địa bàn TP Sầm Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương.

Hạt Kiểm lâm TP Thanh Hóa đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các huyện Thiệu Hóa, Đông Sơn và TP Thanh Hóa chỉ đạo các phường, xã, các ngành tăng cường bảo vệ các loại chim hoang dã; phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, tuần tra, kiểm tra trên các tuyến phố, các điểm chợ, các cánh đồng trên địa bàn. Kết quả, đã tịch thu, tiêu hủy 1.200 cọc tre, 5.000m lưới bẫy chim, 6 bình ắc quy, 6 loa, 6 máy gọi chim; thả về tự nhiên 112 cá thể chim các loại; bắt giữ 2 đối tượng bán rong chim tự nhiên và yêu cầu viết cam kết không tái phạm, đồng thời tự nguyện thả toàn bộ chim về môi trường tự nhiên.

Để tăng cường các biện pháp bảo vệ chim hoang dã, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) ban hành công văn số 3889/SNN&PTNT-CCKL về việc “Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn các loài chim hoang dã”. Thực hiện công văn trên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm tham mưu cho UBND cấp huyện, cấp xã về nhiệm vụ, giải pháp quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển các loài chim hoang dã; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Thanh Hóa đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển các loài chim hoang dã; phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức kiểm tra địa bàn các huyện trọng điểm nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, đặc biệt vào mùa chim di cư. Kết quả, từ tháng 9-2020 đến nay, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các địa phương bắt giữ, tiêu hủy trên 6.000m lưới, 12 kg lưới bẫy chim; 50 bẫy sập, 8 bình ắc quy, 8 máy phát tín hiệu dẫn dụ chim, 1.500 cọc giăng lưới và nhiều dụng cụ liên quan đến săn bắt chim trời; bắt giữ 3 đối tượng bán rong chim tự nhiên và yêu cầu viết cam kết không tái phạm, đồng thời tự nguyện thả toàn bộ chim về môi trường tự nhiên... Nhờ đó, hoạt động săn bắt, buôn bán chim hoang dã giảm đáng kể.

Tuy nhiên, việc ngăn chặn săn bắt chim hoang dã vẫn gặp nhiều khó khăn do địa bàn rộng, lực lượng mỏng, chế tài chưa đủ mạnh để xử lý các đối tượng vi phạm. Thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp tục chỉ đạo các hạt kiểm lâm, đội kiểm lâm cơ động và PCCCR phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan tăng cường phối hợp, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi bẫy bắt, vận chuyển, buôn bán các loài chim hoang dã.

Tác giả: Khắc Công - Báo Thanh Hóa

Mạnh tay ngăn chặn nạn săn bắt chim trời ở Thanh Hóa 

(Baothanhhoa.vn) - Liên tục trong nhiều ngày qua, lực lượng Kiểm lâm Thanh Hóa cùng các địa phương trên địa bàn tỉnh đã chủ động ra quân xử lý tình trạng săn bắt, bẫy bán chim trời, chim di cư. Các biện pháp xử lý vấn nạn săn bắt chim hoang dã ở Thanh Hóa bước đầu đã mang lại hiệu quả. Song, để xỷ lý dứt điểm tình trạng tận diệt chim trời cần thêm thời gian, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp chính quyền.
Posted by Admin Friday, October 23, 2020 8:32:00 AM

 

Tuấn Anh

Nguồn: BTH

PHÁT HIỆN LOÀI VE SẦU MỚI CHO KHOA HỌC THUỘC GIỐNG MEGAPOMPONIA Ở LÀO 

Các nhà côn trùng học Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ vừa công bố một loài ve sầu mới cho khoa học; mẫu chuẩn được thu tại Lào. Loài mới này thuộc giống Megapomponia phân tộc Megapomponiina, tộc Dundubiini, phân họ Cicadinae, họ Cicadidae, phân bộ ve rầy Auchenorrhyncha, bộ Hemiptera.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Thursday, October 15, 2020 9:03:00 AM

Giống Megapomponia là giống ve sầu có kích thước lớn gồm 8 loài trên thế giới. Ở Lào đã ghi nhận 1 loài là M. intermedia.

Loài mới được đặt tên theo nhà côn trùng học người Pháp, Thierry Bourgoin, có tên là Megapomponia bourgoini Pham & Constant, 2020. Loài mới này có một số đặc điểm gần với giống các loài M. imperatoriaM. pendleburyiM. intermedia, M. sitesi và M. atrotunicatabởi các đốm vệt trên cổ pronotum, nhưng khác với các loài trên bởi gốc cánh trước không có màu da cam đến đỏ.

Kích thước con đực loài mới: chiều dài cơ thể 72,5mm, chiều dài cánh trước 83,5mm; chiều rộng cánh trước 13,4-15,0mm; chiều rộng của đầu (gồm cả mắt kép) 20,2mm; chiều dài đầu 9,1mm; mảnh lưng ngực trước (pronotum) rộng 24,5mm.

Phân bố: Lào

Mẫu vật nghiên cứu của loài Megapomponia bourgoini được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris, Cộng hoà Pháp.

Mô tả chi tiết của loài được đăng tải trên Tạp chí North-Western Journal of Zoology 2020, vol.16 (1):  102-105.

Hình 1. Mẫu chuẩn con đực loài Megapomponia bourgoini. A. hình thái ngoài, nhìn từ mặt lưng; B. hình thái ngoài, nhìn từ mặt bụng; C. đầu, ngực, bụng và operculum nhìn từ mặt bên.

Hình 2: Bộ phận sinh dục con đực loài Megapomponia bourgoini, A. pygofer, nhìn từ mặt bụng; B. pygofer, nhìn từ mặt bên.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST

Tác giả: Lê Ngọc Nguyện

Nhận dạng đặc điểm hình thái một số loài Trà hoa vàng thuộc chi Camellia ở Việt Nam 

Đặc điểm hình thái của Trà hoa vàng thuộc Chi Camellia rất đa dạng. Tuy nhiên, qua nghiên cứu của các nhà khoa học như Trần Ninh, Lê Nguyệt Hải Ninh,… xác định có các đặc điểm chung về dạng cây, lá, hoa, quả và một số đặc điểm riêng nhận biết, cụ thể:
Posted by Admin Friday, October 2, 2020 11:29:00 AM

Dạng cây

Các loài Trà hoa vàng thuộc chi Camellia là cây thường xanh, có thể là cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi; chồi và cành non có thể có lông thưa, có lông dày hoặc không lông

 

Lá mọc cách, không có lá kèm

Hình thái phiến lá đa dạng, kích thước phiến lá dao động lớn (chiều dài từ 0,4-40 cm). Đây là đặc điểm biến đổi, đặc điểm cụ thể một số loài có hình vẽ kèm theo.

 

Hoa

Hoa đầy đủ, lưỡng tính, đối xứng tỏa tròn

Hoa mọc ở nách lá hoặc đầu cành, đơn độc hoặc thành cụm, đường kính hoa dao động từ 1-11 cm.

 

Cuống hoa có thể rất ngắn (0,1-0,3 cm) hoặc dài đến 4,5 cm. Đi cùng với đặc điểm độ dài cuống hoa là sự phân hóa của lá bắc và lá đài. Thông thường, hoa có cuống ngắn thì lá bắc và lá đài không phấn hóa hoặc phân hóa không hoàn toàn; ngược lại, hoa có cuống dài thì lá bắc và lá đài phân hóa rõ.

Màu sắc cánh hoa: vàng. Số lượng cánh hoa biến đổi, song điều này có thể xảy ra ngay trên cùng một cây nên đặc điểm này thường không có ý nghĩa đặc biệt trong phân loại, nhận dạng.... Trong số đó, đặc điểm ưu tiên hơn trong phân loại, nhận biết là các đặc điểm ít biến đổi dưới tác động của ngoại cảnh như cánh hoa có lông hay không, mức độ hợp của cánh với nhau.

Nhị nhiều, chỉ nhị thường xếp trong 2-6 dãy. Các chỉ nhị vòng ngoài thường hợp ở gốc nhiều hay ít tạo thành bộ nhị dạng ống hoặc dạng chén. Chỉ nhị có lông hoặc không lông.

Bộ nhụy phần lớn gồm 3-5 lá noãn, hợp thành bầu trên, 3-5 ô. Tất cả các ô bầu đều hữu thụ hoặc chỉ duy nhất một ô trong đó hữu thụ. Vòi nhụy có thể rời, hợp hoàn toàn hoặc hợp một phần. Bộ nhụy có thể có lông hoặc không lông.

Quả

Quả nang, thường hình cầu, hình cầu dẹp.

 

Tác giả: Lê Nguyên Chất
 
 
 
 

Thành phố Thanh Hóa tiếp tục triển khai nhiều giải pháp để bảo vệ các loài chim tự nhiên 

iếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện Công văn số 14276/UBND-NN ngày 12/11/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc tiếp tục đẩy mạnh bảo vệ, bảo tồn và phát triển các loài chim hoang dã. Ngay từ đầu năm 2020, Thành ủy TP. Thanh Hóa đã ban hành Công văn số 1997-CV/TU ngày 13/01/2020 về việc thực hiện quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ các loài chim tự nhiên; UBND TP. Thanh Hóa ban hành Công văn số 1152/UBND-KT ngày 12/3/2020 về việc tiếp tục tăng cường quản lý, kiểm soát việc nuôi nhốt, vận chuyển
Posted by Admin Friday, October 2, 2020 11:24:00 AM

Từ những chỉ đạo của Thành ủy và UBND TP. Thanh Hóa, Kiểm lâm công tác tại địa bàn đã tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã thuộc địa bàn TP. Thanh Hóa kiện toàn 34 tổ công tác liên ngành/34 xã, phường về thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc nuôi nhốt, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ các loài động vật hoang dã và chim hoang dã trái phép; tham mưu ban hành văn bản chỉ đạo các ban, ngành đoàn thể trong xã, phường và triển khai xuống đến các Trưởng khu phố, thôn để thực hiện. Tên cơ sở đó, các xã, phường đã giao Công an xã là lực lượng nòng cốt phối hợp với cán bộ Quy tắc, Kiểm lâm, Công an thôn để triển khai thực hiện.

Hội nghị triển khai công tác BVR, PCCCR, bảo vệ chim tự nhiên, tại  xã Đông Lĩnh TP Thanh Hóa 

 

Kết quả 9 tháng đầu năm 2020, Kiểm lâm làm việc tại địa bàn đã phối hợp với các lực lượng Công an, Quy tắc các phường, xã: Điện Biên, Trường Thi, Quảng Cát, Quảng Phú và Hoằng Quang lập biên bản thả về môi trường tự nhiên gần 300 con chim các loại, tháo dỡ, tiêu hủy tại chỗ 06 loa kèn, 03 thiết bị dẫn dụ chim, 01 bình ắc quy tự chế 12v, hơn 1.500m lưới và hơn 100 cọc đỡ giăng lưới, bẫy bắt chim hoang dã.

Với sự chỉ đạo xuyên suốt của Thành ủy, UBND TP. Thanh Hóa, các ngành chức năng, đặc biệt ở cấp xã đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hiệu quả, thiết thực, qua đó các vụ buôn bán, giăng lưới bẫy bắt các loài chim hoang dã đã giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước, góp phần bảo tồn và phát triển các loài chim hoang dã trên địa bàn thành phố Thanh Hóa./.

Đối tượng buôn bán chim hoang đã tự tay thả phóng sinh chim tại công sở phường Điện Biên, TP Thanh Hóa

Lực lượng Công an, Quy tắc xã Quảng Cát, TP Thanh Hóa phối hợp với KLV địa bàn tháo dỡ, tiêu hủy tại chỗ giăng lưới, bẩy bắt chim hoang dã

Tác giả: Nguyễn Xuân Lam

Phim ngắn “Luật hóa để quản lý hiệu quả cơ sở nuôi động vật hoang dã phi thương mại” 

Thời gian qua, hoạt động nuôi nhốt ĐVHD vì mục đích phi thương mại tại các vườn thú, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học do tư nhân thành lập đang ngày càng phát triển và trở thành một xu thế mới tại Việt Nam. ENV ủng hộ sự phát triển và tham gia của khối tư nhân trong công tác xây dựng và vận hành các vườn thú, cơ sở bảo tồn da dạng sinh học.
Posted by Admin Friday, September 25, 2020 10:50:00 AM

Tuy nhiên, theo ENV, hoạt động nuôi ĐVHD tại các đơn vị này chỉ có thể đóng góp vào các nỗ lực bảo tồn, bảo vệ ĐVHD nếu pháp luật có những quy định cụ thể về điều kiện thành lập, duy trì và hoạt động của các cơ sở này. Hành lang pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ trong quản lý hoạt động của các cơ sở phi thương mại và cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học như hiện nay không những cản trở hoạt động của các cơ sở chân chính mà còn tạo ra những kẽ hở cho một số đối tượng lợi dụng làm “vỏ bọc” để tiến hành các hoạt động buôn bán ĐVHD trái phép, tác động tiêu cực đến các nỗ lực bảo vệ ĐVHD và bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam.

Trong bối cảnh này, ENV đã ra mắt phim ngắn “Luật hóa để quản lý hiệu quả cơ sở nuôi động vật hoang dã phi thương mại”, trong đó đề xuất các cơ quan Nhà nước ban hành một văn bản quy phạm pháp luật mới để điểu chỉnh hoạt động của các cơ sở nuôi ĐVHĐ phi thương mại, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học nhằm tạo thuận lợi trong quá trình hoạt động cho các cơ sở hợp pháp và ngăn chặn triệt để các cơ sở bất hợp pháp.

 
 
Nguồn tin : ENV
Tác giả: Ngô Thị Minh

Điều tra và nghiên cứu về các loài Cu li (Nycticebus spp.) lần 3 tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên 

Tiếp nối chuỗi hoạt động nghiên cứu về quần thể các loài Cu li tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (KBTTN Xuân Liên), trong tháng 7/2020, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển (CCD) đã phối hợp với cán bộ của Ban quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên thực hiện tiếp hoạt động điều tra đợt 3 tại khu vực phía Tây Bắc của Xuân Liên.
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Friday, August 28, 2020 2:25:00 PM

Nhóm nghiên cứu đã điều tra bằng đèn soi trên 13 tuyến, với tổng độ dài khoảng 48 Km. Kết quả điều tra ghi nhận được một cá thể Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) và một số loài động vật khác như sóc bay nhỏ, thú gặm nhấm, cú mèo, v.v.. Kết hợp với kết quả điều tra đợt 1 (tháng 7/2019), đợt 2 (12/2019) và thông tin thu được từ các cộng tác viên địa phương thì có 07 cá thể cu li, gồm 02 cá thể cu li lớn (Nycticebus bengalensis), 05 cá thể culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus) đã được ghi nhận trên các tuyến điều tra ở Xuân Liên. Các cá thể cu li nêu trên đều được ghi nhận tại sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ-tre nứa và rừng tái sinh sau nương rẫy (phục hồi sau hơn 20 bỏ hoang). Chưa có ghi nhận nào ở khu vực rừng cây gỗ lớn và rừng già như thông tin mà nhóm thu được từ các nguồn phỏng vấn.

Cu li là nhóm động vật được bảo vệ bởi pháp luật của Việt Nam, cụ thể là Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP (danh mục được cập nhật trong Nghị định số 64/2019/NĐ-CP). Đánh giá sơ bộ tại Xuân Liên thì quần thể hoang dã của cả hai loài này có đang bị suy suy giảm mạnh do săn bắt (nguyên nhân chính), buôn bán (không phố biến) và mất nơi sống (nguyên nhân quan trọng). Mặc dù Sách đỏ Việt Nam (2007) xếp culi trong danh mục loài Sẽ nguy cấp (VU), tuy nhiên các nghiên cứu gần đây về cu li ở Việt Nam cho thấy quần thể của chúng bị suy giảm ở tất cả các vùng phân bố do vậy mức độ đe dọa của chúng nên được đặt ở mức EN hoặc CR. Hơn thế, Danh lục đỏ các loài bị đe dọa của IUCN cũng đã xếp chúng vào mức EN, do vậy cần nâng mức độ bảo vệ đối với các loài cu li ở Việt Nam để có các biện pháp bảo vệ tích cực hơn cho 2 loài này.

Trong thời gian tới, CCD sẽ tiếp tục phối hợp với KBTTN Xuân Liên để tiến hành thêm các đợt điều tra nhằm đánh giá hiện trạng quần thể Cu li trên toàn khu vực. Đồng thời, thực hiện các hoạt động truyền thông cho cộng đồng để nâng cao nhận thức người dân, nhằm giảm các mối đe dọa như săn bắt và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo tồn cu li cũng như các loài linh trưởng nguy cấp khác.

CCD đang phối hợp chặt chẽ với Ban quản lý các khu bảo tồn, các Vườn quốc gia trong cả nước để duy trì các chương trình bảo tồn dài hạn cho các loài động, thực vật nguy cấp của Việt Nam. CCD cũng phối hợp với các đối tác nhằm thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực cho các nhà khoa học trẻ, cán bộ tại các khu bảo tồn, vườn quốc gia nhằm nghiên cứu, giám sát và bảo vệ tốt hơn sinh cảnh và quần thể của các loài động vật hoang dã nguy cấp của Việt Nam và khu vực. Chúng tôi cũng đang thực hiện các hoạt động tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cho các đối tác nhà nước liên quan nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động bảo tồn, các hoạt động thực thi Luật Lâm nghiệp, Luật Bảo tồn đa dạng sinh học để giúp việc quản lý các khu bảo tồn, vườn quốc gia cùng các giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam hiệu quả hơn.

Ảnh 1: Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus) được ghi nhận trên một tuyến điều tra đêm

Ảnh 2: Rừng hỗn giao tre nứa- gỗ

Ảnh 3: Nhóm nghiên cứu và kiểm lâm, tổ bảo vệ rừng cộng đồng ở Xuân Liên trong hoạt động điều tra đêm

Ảnh 4: Sóc bay nhỏ (Hylopetes phayrei) ghi nhận trên tuyến điều tra đêm

Ảnh 5: Rắn roi xanh (Ahaetulla prasina) ghi nhận trên tuyến điều tra đêm

Ảnh 6: Rồng đất (Physignathus cocincinus) ghi nhận trên tuyến điều tra đêm

Nguồn tin: Center for Nature Conservation and Development (CCD) - https://ccd.org.vn/news/dieu-tra-va-nghien-cuu-ve-cac-loai-cu-li-nycticebus-spp-lan-3-tai-khu-bao-ton-thien-nhien-xuan-lien/

Tác giả: Thiều Văn Lực

Ghi nhận cá thể rùa mai mềm kích thước lớn ở hồ Đồng Mô, Hà Nội 

Thêm hy vọng cho công tác bảo tồn loài rùa quý hiếm nhất trên thế giới khi một cá thể rùa mai mềm có kích thước lớn khác được chụp ảnh tại hồ Đồng Mô
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Thursday, August 27, 2020 7:56:00 AM
Hồ Đồng Mô là địa điểm ghi nhận cá thể rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) hoang dã đầu tiên trên thế giới vào năm 2007. Các ngư dân ở hồ Đồng Mô từ lâu đã khẳng định có một cá thể thứ hai nhỏ hơn đang sống trong hồ và các cán bộ thực địa của chúng tôi tin rằng họ đã nhìn thấy cá thể đó nhiều lần từ năm 2011, nhưng cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh về sự tồn tại của cá thể này trong hồ.
Cuối cùng, thần may mắn đã mỉm cười với chúng tôi. Vào ngày 20 tháng 8 năm 2020, anh Nguyễn Văn Trọng, cán bộ thực địa của Chương trình Bảo tồn Rùa châu Á (ATP) thuộc tổ chức Indo-Myanmar Conservation (IMC), đã chụp lại khoảnh khắc hai cá thể cùng nổi lên tại một địa điểm. Tuy nhiên, cần tiến hành thêm các nghiên cứu chuyên sâu để xác định danh tính của cá thể rùa mới này, nhưng kích thước của cá thể rùa thứ hai mang lại niềm tin cho chúng tôi rằng đó là một cá thể rùa Hoàn Kiếm.
 
ATP/IMC, với vai trò là thành viên tích cực của Liên minh bảo tồn rùa Hoàn Kiếm (Rafetus Alliance), đang hợp tác với Chi cục Thủy sản Hà Nội, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS), tổ chức Turtle Survival Alliance (TSA), Tổ chức Global Wildlife Conservation (GWC) và Viện Tài nguyên và Môi trường (CRES) để thực hiện kế hoạch hành động bảo tồn loài
Nguồn tin: Asian Turtle Program
Tác giả: Đỗ Thành Trung

TRỒNG 10.000 CÂY GIẢM THIỆT HẠI THIÊN TAI CÙNG MC THÁI MINH CHÂU VÀ CÁC NGHỆ SĨ 

hanh Hoá, ngày 22 tháng 8 năm 2020 – Gần 10,000 cây gỗ lớn bản địa đã được MC Thái Minh Châu, Ca sỹ Jun Phạm, MC Quảng Bảo cùng các em học sinh và người dân địa phương trồng tại tỉnh Thanh Hóa
Posted by Nguyễn Tuấn Anh Saturday, August 22, 2020 9:24:00 AM

Đây là hoạt động do Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia phối hợp với Vườn quốc gia Bến En, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên và nhiều nhãn hàng thực hiện, từ ngày 18-22.08.2020. Các hoạt động trồng rừng này nhằm làm giàu và phục hồi gần 10ha rừng nghèo kiệt, cải thiện giá trị sinh thái của khu rừng, giảm thiệt hại thiên tai, đảm bảo năng xuất mùa vụ và qua đó cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Thanh Hóa nói riêng, Việt Nam nói chung. Các khu rừng mới trồng cũng còn góp phần bảo tồn các loài động vật hoang dã quý hiếm như Bò tót, Vượn đen má trắng, Voọc Xám, Hồng hoàng…

Theo Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam, cuối năm 2019, cả nước có 14,45 triệu ha rừng, tương đương độ che phủ rừng 41,85%. Tuy độ che phủ rừng đang tăng lên, nhưng chất lượng rừng lại suy giảm. Do mất rừng và suy giảm chất lượng rừng, các thiên tai ảnh hưởng càng nghiêm trọng hơn đến cuộc sống của người dân khắp cả nước, đặc biệt là các tỉnh miền trung: bão lũ gây thiệt hại tính mạng, tài sản, nguồn nước tưới tiêu, nước sinh hoạt, năng xuất nông nghiệp thiếu ổn định, dịch bệnh dễ bùng phát… Việc mất rừng và suy giảm chất lượng rừng, cũng ảnh hưởng đến sự sống còn của nhiều loài hoang dã. Hiện Việt Nam có khoảng hơn 350 loài động vật bị đe dọa tuyệt chủng và được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam. Vào năm 2010, chúng ta đã mất Tê giác. Hổ, gấu, báo hoa mai hiện cũng rất hiếm. Hội nghị Bảo tồn Đa dạng Sinh học quốc tế tại Colombia năm 2017 thống nhất trồng rừng là một giải pháp bảo tồn hiệu quả mà các quốc gia cần nhanh chóng thực hiện.

Nhận thức được vai trò to lớn của việc trồng rừng, Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia đã khởi xướng chương trình Góp 1 cây là góp rừng, nhằm tạo cơ hội cho mọi cá nhân, doanh nghiệp cùng tham gia trồng rừng và tìm hiều về vai trò của rừng với con người. Chương trình đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của hàng ngàn cá nhân, doanh nghiệp, chỉ sau vài tháng phát động. Đợt trồng rừng tại Bến En này đã nhận được sự đóng góp 7,275 cây của gần 100 cá nhân và các doanh nghiệp như: OMO, Kenli, Phục Hưng Books, Đông A Books. Rừng Xuân Liên tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, nhận được sự đóng góp 2,350 cây của Pampers, và gần 60 cá nhân. Mỗi cá nhân, đơn vị ủng hộ trồng rừng đều kèm theo những thông điệp nhắn nhủ ý nghĩa và niềm tin đặc biệt cho dải đất miền Trung chịu nhiều thiệt hại từ thiên tai như Một chút góp nho nhỏ cho rừng mãi Xanh, Thương lắm rừng ơi, Nhanh lớn nhé rừng ơi,… Đặc biệt, khu rừng Pampers nhằm phục hồi đất trống trọc tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên mang lời nhắn gửi mạnh mẽ từ các bà mẹ gửi đến những bạn nhỏ đáng yêu của mình, hy vọng thế hệ tiếp nối sẽ yêu thiên nhiên và chăm sóc rừng nhiều hơn.

Đại diện Pamper chia sẻ: “Trồng cây, bảo vệ rừng, làm xanh Trái Đất là cách chúng tôi lựa chọn để mang đến thêm sức khỏe và hạnh phúc cho các con và cả thế hệ tương lai. Chúng tôi hy vọng mọi người sẽ cùng Gaia, cùng Pampers hành động, chung tay tạo nên một môi trường xanh sạch tốt cho sự phát triển của thế hệ hôm nay và mai sau”

Thái Minh Châu – MC, Nhà sáng lập và Giám đốc Phục Hưng Books chia sẻ: “Hiểu được tầm quan trọng của việc gìn giữ môi trường, quan tâm đến việc nâng cao ý thức cộng đồng, tôi tin đây là một hoạt động không chỉ tác động tốt đến hệ sinh thái mà còn mang tính giáo dục và lan tỏa cảm hứng sống tích cực, làm việc tử tế cho người trẻ. Các tác giả và độc giả của Phục Hưng đều rất trân trọng việc song hành giữa kiến thức, trải nghiệm và nỗ lực tạo ra giá trị bền vững. Tôi hy vọng ngày càng nhiều cây hơn nữa sẽ được trồng lên cũng đồng nghĩa với nhiều điều tử tế được gieo từ bàn tay người trẻ Việt”.

Vườn Quốc Gia Bến En và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên là những khu rừng đặc dụng có giá trị to lớn của tỉnh Thanh Hóa. Trước khi được chuyển hạng thành rừng đặc dụng, cách đây 20-30 năm, các khu vực này là đất nông nghiệp và lâm trường, bị khai thác cạn kiệt. Vườn Quốc gia Bến En và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên đã liên tục nỗ lực khôi phục lại những khu rừng này. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một diện tích lớn rừng nghèo kiệt, thậm chí những khu vực đất trống đồi trọc, cần được trồng rừng và cải thiện chất lượng rừng.

 

Bà Đinh Thị Xuân Lan - CEO Công ty CP Đầu Tư Kenli chia sẻ: “Tôi thực sự xúc động khi được tự tay mình tham gia trồng những cây gỗ quý cho rừng Bến En. Chúng tôi cam kết trồng rừng và cùng nhau hành động Vì một Việt nam Xanh. Tôi hy vọng sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của mọi người cho hoạt động trồng rừng này”

Bà Đỗ Thị Thanh Huyền – Nhà sáng lập và Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Gaia chia sẻ: “Con người chúng ta không thể sống thiếu rừng. Rừng mang lại sức khỏe và hạnh phúc cho con người chúng ta. Chương trình trồng rừng cùng Gaia đã được nhiều nhãn hàng tin tưởng và tham gia thực hiện. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho thiên nhiên Việt Nam, đặc biệt khi dịch CoVid19 đang ảnh hưởng tràn lan đến nhiều ngành nghề khác nhau. Đây là động lực to lớn để Gaia quyết tâm hơn nữa trong việc phục hồi rừng đầu nguồn khắp Việt Nam”.

 

Các khu rừng sẽ được theo dõi, giám sát và chăm sóc trong vòng 4 năm để đảm bảo rừng phát triển ổn định, với tỷ lệ sống tối thiểu là 70-80%. Gaia phối hợp cùng Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên và Vườn Quốc gia Bến En thực hiện hoạt động nghiên cứu, giám sát khu rừng và công khai báo cáo hàng năm. Mọi người đều có thể cập nhật thông tin về khu rừng hàng năm như: tỷ lệ sống của cây, độ lớn của cây, tình trạng phát triển của khu rừng, bộ ảnh giám sát cây, ảnh giám sát khu rừng, hiện trạng các loài động thực vật trong khu rừng...

 

Trong thời gian tới, Gaia tiếp tục đẩy mạnh chương trình “Trồng và giám sát rừng cộng đồng” tại các khu rừng đặc dụng khắp Việt Nam, đặc biệt là việc trồng rừng chống xâm nhập mặn và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai tại Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.

Gaia kêu gọi sự quan tâm, ủng hộ của các công ty, đơn vị, cá nhân và trường học đồng hành cùng Gaia trong chương trình trồng rừng đầy ý nghĩa thiết thực này.

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên GAIA (http://gaiavn.org/tin-tuc/tin-gaia/trong-10-000-giam-thiet-hai-thien-tai-cung-mc-thai-minh-chau-va-cac-nghe-si.html)

Tác giả: Trịnh Quang Tuấn

 

Page 1 of 10 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 > >>